Lịch sử chương trình không gian Xô viết

redflag

Moderator
Lịch sử chương trình không gian Xô viết


Vào những ngày tháng 4 lịch sử này, đúng 50 năm trước, trên đất nước Liên bang Xô viết đang diễn ra những hoạt động dồn dập nhưng bí mật để chuẩn bị cho 1 sự kiện trọng đại: Chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ!

Có thể nói rằng nền khoa học – kỹ thuật của Liên Xô đã được ươm mầm từ sau Cách Mạng tháng Mười – khi những người vô sản giành được chính quyền từ chế độ Nga hoàng, Đảng cộng sản Liên Xô đã đánh giá đúng tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật trong thời kỳ đầu công cuộc xây dựng đất nước Chủ nghĩa Xã hội non trẻ và đã tạo điều kiện để những nhà khoa học, những kỹ sư, những nhà thiết kế phát huy hết tài năng sáng tạo của mình. Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại (1941 – 1945) chính là thời kỳ mà những hạt giống đó nảy mầm để rồi thăng hoa rực rỡ trong Chiến tranh lạnh mà đỉnh cao là cuộc chạy đua vào không gian.

Nói đến “Chương trình không gian Xô viết” là nói đến công nghệ tên lửa và du hành - thám hiểm vũ trụ được quản lý và chỉ đạo bởi Liên bang Xô viết từ thập kỷ 1930 cho tới năm 1991. Trong thời gian 60 năm đó, LX đã gặt hái được nhiều thành tựu dẫn đầu trong sự nghiệp chinh phục vũ trụ của loài người: Chế tạo tên lửa liên lục địa đầu tiên trên thế giới (R7 - 1957), phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên (Sputnik 1 - 1957), chuyến bay với sinh vật đầu tiên (chó Laika trên Sputnik 2 - 1957), con người đầu tiên bay vào quỹ đạo Trái đất (phi hành gia Y.A.Gagarin trên Vostok 1 – 1961), vật thể nhân tạo va chạm (1959) và đổ bộ đầu tiên lên Mặt Trăng, xe tự hành đầu tiên trên Mặt Trăng (1970), lắp ráp trạm không gian và phóng các tàu thăm dò liên hành tinh đầu tiên trên thế giới.

Thời kỳ đầu


Lý thuyết cho những chuyến bay vào vũ trụ đã được hình thành từ thời còn chế độ Nga hoàng, trước khi thế chiến thứ nhất nổ ra, bởi K.E.Tsiolkovsky, người đã được toàn thế giới coi là “Cha đẻ của khoa học du hành vũ trụ hiện đại”. Các ý tưởng về chuyến bay và các thiết kế tàu vũ trụ, trạm không gian, chu trình cung cấp sự sống cho phi hành gia… của Tsiolkovsky được trình bày trong các tác phẩm xuất bản vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Đồng thời, các thực nghiệm đầu tiên với tên lửa đã được tiến hành bởi Tổ nghiên cứu động cơ phản lực (Tiếng Nga: Gruppa izucheniya reaktivnogo dvizheniya - GIRD) vào đầu thập kỷ 1930. GIRD được thành lập vào ngày 15/09/1931, so với người Mỹ và người Đức, đây có thể coi là tổ chức nghiên cứu tên lửa chuyên nghiệp lớn nhất trên thế giới vào thời kỳ đó, gồm những người mở đường là Sergei Korolyov, Friedrich Tsander, Mikhail Tikhonravov.



F.A. Tsander - M.K. Tikhonravov


Yu.A. Pobedonostsev - S.P. Korolev

Các thành viên chủ chốt của GIRD (1933)

Cơ cấu của GIRD gồm có 4 bộ phận và 10 dự án nghiên cứu tên lửa. Ngày 18/08/1933, GIRD đã phóng tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên của Xô viết với ký hiệu GIRD-09, và vào ngày 25/10/1933 thành công với tên lửa GIRD-X. Ngày 16/05/1932, GIRD đã sát nhập với Phòng thí nghiệm khí động học ở Leningrad để hình thành Viện nghiên cứu khoa học động cơ phản lực RNII. Viện đã thực hiện các cải tiến trong động cơ phản lực, dàn hỏa tiễn nổi tiếng Cachiusa trong thế chiến II là một trong những thành công đó.


GIRD-X Rocket (1933)- S.P.Korolyov là người đứng ngoài cùng bên trái

Thế chiến II

Trong thập kỷ 1930, công nghệ tên lửa của LX có thể nói sánh ngang với công nghệ của Đức. Tuy nhiên, cuộc Đại thanh trừng (1938) đã khiến các thành viên chủ chốt của Viện, hoặc bị xử tử hoặc bị tù đày, bản thân S.P.Korolyov (Korolev) người sau này trở thành Tổng công trình sư chương trình không gian LX cũng bị buộc tội chống Chính phủ khi tiến hành các nghiên cứu và thực nghiệm với động cơ nhiên liệu lỏng thay vì nhiên liệu rắn. Cuộc Đại thanh trừng đã làm tổn hại nghiêm trọng và đẩy lùi sự phát triển chương trình tên lửa của LX so với Đức ngay trước khi thế chiến II xảy ra.
Ngay sau khi thế chiến II chấm dứt, ngày 13/5/1946, Chính phủ LX đã ban hành quyết định về việc thành lập ngành chế tạo và sản xuất vũ khí tên lửa với động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng, đồng thời thành lập Viện nghiên cứu – thử nghiệm nổi tiếng mang số 88 (NII-88). Theo quyết định này, tất cả các kỹ sư LX được cử sang Đức để thu thập tài liệu, nghiên cứu loại tên lửa V2 - “vũ khí báo thù” mà Hitler đã dùng để tấn công London và các nước đồng minh. Mặc dù Cachiusa rất nổi tiếng và gây ảnh hưởng lớn trong cuộc chiến nhưng những bước tiến về công nghệ tên lửa của Đức đã gây sửng sốt cho các kỹ sư LX khi họ tiếp quản và kiểm tra những gì còn lại tại các trung tâm chế tạo tên lửa V2 http://en.wikipedia.org/wiki/Peenem%C3%BCndehttp://en.wikipedia.org/wiki/Mittelwerkcủa Đức khi Đức bại trận.


V2 (Vergeltungswaffe 2 - “Vũ khí báo thù” của Hitler)

Ngay sau cuộc chiến, đã bắt đầu hình thành những mầm mống “Chiến tranh lạnh” giữa 2 cường quốc LX và Mỹ. Người Mỹ đã thu nhận một cách bí mật các nhà khoa học, kỹ sư tên lửa hàng đầu của Đức và 100 tên lửa V2 trong “Chiến dịch kẹp giấy – Paperclip”. LX cũng có được những lợi thế khi thu thập được một số nhà khoa học cùng các hồ sơ, bản vẽ cấu tạo tên lửa V2 từ các trung tâm tên lửa.

Những bước tiến phát triển tên lửa đạn đạo Xô viết - vai trò của S.P.Korolev

Trong thời gian ở Đức, S.P.Korolev không chỉ nghiên cứu tên lửa V2, mà còn thiết kế một loại tên lửa đạn đạo hoàn thiện hơn với tầm xa tới 600 km.
Chẳng bao lâu sau tất cả các chuyên gia Xô viết quay trở về nước hoạt động trong Viện nghiên cứu NII-88, các văn phòng thiết kế - thử nghiệm được thành lập. Tháng 8 năm 1946, Korolyov được bổ nhiệm làm Tổng công trình sư, trưởng Cục 3 của Viện (năm 1956, Cục 3 tách riêng thành Văn phòng thiết kế đặc biệt OKB-1) chuyên về thiết kế các loại tên lửa đạn đạo tầm xa.
Nhiệm vụ đầu tiên mà chính phủ đặt ra trước S.P.Korolev với tư cách tổng công trình sư và tất cả các cơ quan nghiên cứu vũ khí tên lửa – đó là chế tạo loại vũ khí tương tự V2 từ các vật liệu của Liên Xô. Nhưng năm 1947 đã có quyết định về việc thiết kế chế tạo các tên lửa đạn đạo mới có tầm xa hơn V2. Năm 1948 S.P.Korolev bắt đầu các thử nghiệm tên lửa đạn đạo R1 (phiên bản của V2) và năm 1950 thì đã chuyển giao tên lửa này để trang bị cho quân đội. Tên lửa này khác với V2 ở độ tin cậy vượt trội.


Mặt cắt R1 - Rocket

Song song với việc đó S.P.Korolev cũng tiến hành thiết kết loại tên lửa đạn đạo mới với tầm xa lên đến 600 km. Tên lửa R2 có thùng nhiên liệu thuận tiện hơn, và điều quan trọng nhất là có đầu đạn tự tách trong hành trình. Ngoài ra, bộ phận chuyển động của tên lửa đã được hoàn thiện đáng kể nhằm mục tiêu tăng sức đẩy, còn hệ thống điều khiển tự động thì có độ bắn chính xác tăng gấp đôi. Tên lửa R2 được đưa vào sử dụng năm 1951, tức là chỉ muộn hơn một năm so với tên lửa R1.


Mặt cắt R2 - Rocket


Cùng với các công việc thực tiễn với các vũ khí tên lửa, S.P.Korolev cũng bắt đầu các nghiên cứu thiết kế - thực nghiệm quy mô lớn theo các đề tài N-1, N-2, N-3 nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học kỹ thuật để chế tạo các tên lửa đạn đạo mới về chất lượng.

Trong phạm vi đề tài N-1 đã tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm – lý thuyết các vấn đề kỹ thuật chủ yếu liên quan đến việc triển khai tên lửa R3 có tầm xa 3000 km: Cần phải đảm bảo sự ổn định hành trình của tên lửa với sơ đồ không ổn định về mặt khí động lực học và nhận được các số liệu về vận động của ôxy lỏng sôi trong thùng nhiên liệu không cách nhiệt trong quá trình chuyển động trên quỹ đạo. Trên cơ sở đó, họ đã chế tạo tên lửa đạn đạo thực nghiệm một tầng R3-A sơ đồ khí động lực học không ổn định có tầm xa 1200 km. Các thử nghiệm bay thành công của tên lửa này đã tạo cơ sở cho Bộ Quốc Phòng tiếp nhận tên lửa này năm 1956 với đầu đạn hạt nhân – tên lửa R5-M. Đó là tên lửa chiến lược đầu tiên của Liên Xô, và tên lửa này đã trở thành cơ sở của lá chắn tên lửa hạt nhân của đất nước.


Mặt cắt R3 - Rocket



Các thiết kế trong đề tài N-1

Trong phạm vi đề tài N-2 đã hoàn thành các nghiên cứu về khả năng và tính thiết thực của việc chế tạo các tên lửa đạn đạo hoạt động theo thành phần ổn định nhiệt độ sôi cao của nhiên liệu (sử dụng axít nitric và ôxit nitơ làm chất ôxy hóa). Kết quả đã khẳng định được khả năng chế tạo các tên lửa này và hoàn thành thiết kế bản vẽ tên lửa đạn đạo đầu tiên của Liên Xô R11 với tầm xa 250 km và khối lượng xuất phát nhỏ hơn hai lần so với R1. Tuy nhiên nếu tính đến độ độc hại môi trường của oxit nitơ và các đặc tính năng lượng nhỏ hơn của nhiên liệu lỏng ổn định so với nhiên liệu ôxy lỏng và dầu hỏa, cũng như các vấn đề khó khăn phát sinh khi đó về việc chế tạo động cơ tên lửa với sức đẩy cần thiết và làm việc ổn định với các thành phần này của nhiên liệu, thì việc sử dụng chất ôxy hóa axit nitric với ôxit nitơ làm chất ôxy hóa cho tên lửa đạn đạo với tầm tương đối gần đã được thừa nhận là phù hợp. Còn khi chế tạo tên lửa với tầm xa hơn, đặc biệt tên lửa liên lục địa thì­­­ ưu tiên sử dụng ôxy lỏng làm chất ôxy hóa. Sergei Korolev đã trung thành với hướng phát triển kỹ thuật tên lửa này trong suốt chặng đường sáng tạo của mình.

Bộ Quốc phòng đặt hàng thiết kế tên lửa R11 và S.P.Korolev đã giải quyết xuất sắc nhiệm vụ này. Ông đã sử dụng động cơ 8 tấn mới chế tạo cho tên lửa phòng không của A.M.Isaev, và lần đầu tiên sử dụng ắc quy áp suất lỏng để cung cấp nhiên liệu vào buồng cháy.



Mặt cắt R11 - Rocket

Trên cơ sở R11, S.P.Korolev đã thiết kế, chế tạo và chuyển giao trang bị quân đội tên lửa chiến lược R11-M với đầu đạn hạt nhân năm 1957. Tên lửa này được vận chuyển trong trạng thái đã nạp nhiên liệu trên khung gầm của xe tăng. Sau khi cải tiến đáng kể tên lửa này ông đã trang bị nó cho tàu ngầm với tên gọi R11-FM. Các thay đổi là rất nhiều, bởi vì họ đã sử dụng hệ thống điều khiển và ngắm bắn mới, cũng như đảm bảo khả năng bắn trong trường hợp sóng biển mạnh từ vị trí trên mặt nước của tàu ngầm, tức khi tròng trành mạnh. Như vậy S.P.Korolev đã chế tạo ra tên lửa đạn đạo đầu tiên làm việc với các thành phần ổn định của nhiên liệu dùng cả trên bộ cũng như trên biển, và là người mở đường trong các lĩnh vực mới mẻ và quan trọng này của sự phát triển vũ khí tên lửa.

Trong đề tài N-3 đã tiến hành các khảo sát thiết kế quan trọng chứng minh được khả năng nguyên tắc việc chế tạo các tên lửa tầm xa tới liên lục địa trong khuôn khổ sơ đồ 2 tầng. Trên cơ sở kết quả các nghiên cứu này theo nghị định của chính phủ tại Viện - 88, hai công trình nghiên cứu khoa học dưới sự chỉ đạo của S.Korolev đã bắt đầu với mục đích xác định hình dáng và các thông số của tên lửa liên lục địa đạn đạo và có cánh (đề tài T-1 và T-2).

Các nghiên cứu trong đề tài T-1 đã dần dần trở thành công việc thiết kế - thử nghiệm gắn với việc chế tạo tên lửa liên lục địa hai tầng đầu tiên R7. Đến tận ngày nay tên lửa này vẫn khiến người ta kinh ngạc vì những giải pháp độc đáo trong thiết kế, sự đơn giản trong thực hiện, độ tin cậy và tính tiết kiệm cao. Tên lửa R7 thực hiện chuyến bay thành công đầu tiên vào tháng 8/1957.



Phiên bản tên lửa R7 với tàu vũ trụ Vostok tại Triển lãm toàn Nga

Các nghiên cứu trong đề tài T-2 đã cho thấy khả năng thiết kế chế tạo tên lửa liên lục địa hai tầng, trong đó tầng thứ nhất đưa tầng thứ hai – tên lửa có cánh lên tới độ cao 23-25 km. Tầng có cánh nhờ có động cơ tên lửa không trung dẫn thẳng tiếp tục chuyến bay ở độ cao này với vận tốc 3M và được dẫn đến mục tiêu nhờ hệ thống điều khiển định vị thiên văn có thể làm việc cả ban ngày.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc chế tạo vũ khí như thế, chính phủ đã ra quyết định bắt đầu các công việc thiết kế - thử nghiệm cùng với lực lượng của Bộ Công nghiệp hàng không (các tổng công trình sư S.A.Lavochkin và V.M.Miasitsev). Các tài liệu thiết kế trong đề tài T-2 được chuyển tới Bộ Công nghiệp hàng không cùng với một số chuyên gia và bộ phận thiết kế hệ thống điều khiển định vị thiên văn.

Tên lửa liên lục địa đầu tiên R7 đã được chế tạo trong thời hạn ngắn kỷ lục, mặc dù có nhiều vấn đề thiết kế mới, và được chuyển giao cho quân đội năm 1960.


Các phiên bản R7 - Rocket

Sau đó S.P.Korolev tiếp tục cho ra đời tên lửa liên lục địa hai tầng R9 hoàn thiện hơn và gọn hơn (sử dụng ôxy lỏng lạnh làm chất ôxy hóa) và chuyển giao tên lửa này cùng phương án phóng từ hầm ngầm R9-A vào năm 1962. Về sau song song với công việc với các hệ thống vũ trụ phức tạp S.P.Korolev cũng là người đầu tiên ở Liên Xô bắt đầu thiết kế tên lửa liên lục địa nhiên liệu rắn RT-2, tên lửa này được trang bị cho quân đội sau khi ông qua đời. Nhưng đó là thành tựu cuối cùng của Văn phòng thiết kế đặc biệt OKB-1 của Korolev – sau đó họ không nghiên cứu chủ đề tên lửa quân sự nữa mà tập trung sức lực cho việc chế tạo các hệ thống vũ trụ ưu việt và các tên lửa đẩy có một không hai.


(Còn nữa)
 

redflag

Moderator
Những chuyến bay vũ trụ

Chương trình không gian Xô viết được đặt điều kiện theo những “kế hoạch 5 năm” của Chính phủ và ngay từ đầu đã nhận được sự ủng hộ của quân đội. Mặc dù có những kế hoạch cá nhân để thực hiện ước mơ về một chuyến bay thám hiểm sao Hỏa, Korolyov thường giữ bí mật trong thời gian làm việc với các dự án của quân đội, đặc biệt là sau thành công của cuộc thử trái bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô năm 1949, thì trong quân đội, ý tưởng về một tên lửa có thể mang 1 đầu đạn hạt nhân tới Mỹ đồng thời ý tưởng về việc phóng vệ tinh và tàu vũ trụ có người cũng bắt đầu xuất hiện.

Từ năm 1949, Korolev cùng với các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã bắt đầu các nghiên cứu sử dụng tên lửa cải tiến R1-A bằng cách phóng thẳng đứng chúng lên tới độ cao 100 km, rồi sau đó thì với các tên lửa R2 và R5 mạnh hơn phóng tới độ cao tương ứng là 200 và 500 km. Mục đích của các chuyến bay này là nghiên cứu các thông số của khoảng không vũ trụ gần, bức xạ mặt trời và thiên hà, từ trường Trái Đất, khả năng sống của các động vật bậc cao trong các điều kiện vũ trụ (không trọng lượng, tăng trọng lượng, rung động lớn và gia tăng tần số âm thanh), cũng như hiệu chỉnh các phương tiện nhằm đảm bảo đưa các động vật này trở về Trái Đất từ vũ trụ một cách an toàn.

Tên lửa đầu tiên mang sinh vật sống được phóng vào tháng 07 năm 1951, hai cá thể chó được ghi nhận còn sống khi tên lửa đạt độ cao 101 km. Hai tháng trước khi người Mỹ có được những thành công đầu tiên, chuyến bay đó cùng những chuyến bay liền ngay sau đã giúp cho Liên Xô có những kinh nghiệm giá trị về sinh lý học trong môi trường không gian.



Bộ 3 K nổi tiếng: Sergei Korolyov, Igor Kurchatov - Cha đẻ bom nguyên tử LX, Mstislav Keldysh - Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học LX, 1956​

Tháng 07 năm 1955, người Mỹ công bố kế hoạch phóng một vệ tinh nhân tạo vào năm Địa vật lý (1957) thì tháng 01 năm 1956, mặc dù còn xa những lần phóng thử nghiệm tên lửa R7 thì Korolev, M.V.Keldysh (Chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô) và M.K.Tikhonravov đã trình bày và thuyết phục người đứng đầu LX lúc bấy giờ là Tổng bí thư N.Khrushchev về kế hoạch phóng vệ tinh của Liên Xô, Korolev cho rằng đây là cơ hội tốt để LX có thể vượt mặt Mỹ và đề nghị này được ủng hộ. Vào tháng 08 năm 1956, OKB-1 tách ra khỏi Viện-88 và trở thành một cơ sở hoạt động độc lập với giám đốc và Tổng công trình sư được chỉ định là Korolev.



Sergei Korolyov tại bãi phóng tên lửa Kapustin Yar, năm 1953

Bởi vì tầm xa có thể vươn tới toàn cầu và tải trọng đẩy lớn (xấp xỉ 5 tấn), R7 không chỉ là một phương tiện phóng chiến lược mang đầu đạn hạt nhân mà còn là phương tiện tối ưu cho chinh phục không gian. Kế hoạch được phê duyệt gồm: Phóng các vệ tinh vào quỹ đạo Trái Đất để thu thập các thông tin từ không gian, phóng 4 vệ tinh trinh thám quân sự Zenit. Kế hoạch xa hơn là chuyến bay có người vào quỹ đạo Trái Đất trong năm 1964 và chuyến bay không người tới Mặt Trăng trong khoảng thời gian ngắn nhất.

Và tới ngày 4/10/1957 thì Liên Xô đã đưa lên quỹ đạo gần Trái Đất vệ tinh nhân tạo đầu tiên trong lịch sử loài người, Sputnik-1, vệ tinh có thiết kế đơn giản chỉ là 1 quả cầu bằng nhôm đánh bóng có khối lượng 83.6kg, mang nhiệt kế, pin và phát ra âm thanh “Bíp! Bíp!” nhưng đã gây cơn địa chấn cho Mỹ và phương Tây. N.Khrushchev rất hài lòng về thành công đó và muốn có một sự kiện lớn hơn nhân ngày kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng Mười (17/11/1957), nhiệm vụ khó khăn này giao cho Cục thiết kế OKB-1 của Korolev.

Khi cơn dư chấn của Sputnik-1 vẫn còn thì vào ngày 3/11/1957, tức chưa đầy 1 tháng sau thành công của Sputnik-1, LX tiếp tục phóng Sputnik-2, vệ tinh có kích thước và khối lượng lớn hơn Sputnik-1, đồng thời mang theo chó Laika, lần đầu tiên một sinh vật sống vào quỹ đạo Trái Đất. Đây có thể coi là kỷ lục của ngành Hàng không vũ trụ thế giới khi toàn bộ việc chế tạo, lắp ghép tên lửa đẩy, vệ tinh chỉ trong thời gian chưa đầy 1 tháng, về sau Korolev đã hồi tưởng lại rằng “Đó là những tháng ngày hạnh phúc nhất cuộc đời tôi”.



Laika trong Sputnik-2, tháng 11/1957

Sau thành công của Sputnik, Korolev muốn thúc đẩy các chuyến bay có người, các thiết kế kết hợp với chương trình Zenit để chế tạo tàu vũ trụ Vostok. Chịu ảnh hưởng tư tưởng từ K.E.Tsiolkovsky – người đã chọn sao Hỏa là mục tiêu quan trọng nhất của thám hiểm không gian nên đầu thập niên 1960, chương trình không gian LX dưới sự chỉ đạo của Korolev đã phác họa các kế hoạch chủ yếu về chuyến bay có người lên sao Hỏa, dự tính diễn ra vào khoảng 1968 – 1970. Với chu trình hỗ trợ sự sống và các động cơ điện cho tên lửa đẩy, tàu vũ trụ sao Hỏa sẽ được phóng từ trạm không gian đồ sộ, đây là những kế hoạch tham vọng hơn rất nhiều so với mục tiêu của người Mỹ là chuyến bay có người lên Mặt Trăng.

Chương trình không gian của LX thời kỳ đầu được đẩy mạnh bởi sự cộng tác của các nhà khoa học trong chương trình tên lửa đầy ưu việt của Đức, sau năm 1955, khi những cộng tác viên cuối cùng người Đức trở về nước, chương trình không gian của LX được thực hiện bởi chính các kỹ sư và nhà khoa học mà đứng đầu là Korolev, một thế hệ tài năng đã tiếp thu đầy sáng tạo và biến những ý tưởng độc đáo về lý thuyết thám hiểm vũ trụ được đặt nền móng từ thời Nga hoàng bởi nhà bác học K.E.Tsiolkovsky thành hiện thực.




Trạm Hoà Bình, 1986-2001

Khó có thể gọi là “Chương trình không gian Xô viết” mà chính xác hơn phải gọi là “Các chương trình không gian Xô viết”, bởi mỗi chương trình là một loạt các phi vụ khác nhau nhưng có cùng mục đích cho một sứ mệnh, trong cùng một chương trình, các thiết kế sau có thể giữ nguyên hay cải tiến hơn thiết kế trước.

Những thành tựu mà Liên Xô đạt được trong thời đại thám hiểm vũ trụ được thống kê trong danh sách sau, từ buổi ban đầu thử thành công tên lửa ICBM R7 đến hình ảnh trạm hòa bình Mir bốc cháy đầy kiêu hãnh khi trở về Trái Đất:

- Các vệ tinh thuộc chương trình Sputnik
- Các vệ tinh, tàu thăm dò bay qua, bay vào quỹ đạo, tiếp xúc, đổ bộ, thám hiểm và thu thập mẫu đất trên Mặt Trăng (Chương trình Luna và các xe tự hành Lunokhod)
- Chương trình thăm dò sao Kim Venera
- Tàu vũ trụ thuộc chương trình Vostok
- Tàu vũ trụ thuộc chương trình Voskhod
- Tàu vũ trụ thuộc chương trình Soyuz
- Chương trình thăm dò sao Hỏa Mars
- Chương trình chuyến bay có người đổ bộ xuống Mặt Trăng
- Các trạm không gian Salyut (Chào Mừng)
- Chương trình tàu con thoi Buran
- Trạm không gian Mir (Hòa Bình)
- Các trạm không gian Almaz
- Các vệ tinh Cosmos
- Energia
- Foton
- Các vệ tinh khí tượng thiên thạch
- Vệ tinh viễn thông Molniya
- Các vệ tinh Proton
- Chương trình thăm dò vệ tinh Phobos của sao Hỏa
- Tàu vũ trụ TKS
- Chương trình thăm dò sao chổi Halley và sao Kim - chương trình Vega
- Chương trình Zond

Những thành tựu dẫn đầu trong thám hiểm vũ trụ của Liên Xô

- 1957: Tên lửa đạn đạo liên lục địa đầu tiên trên thế giới, R7 – Semyorka
- 1957: Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, Sputnik-1
- 1957: Sinh vật sống đầu tiên vào không gian, chó Laika trên Sputnik-2
- 1959: Lần đầu tiên kích hoạt tên lửa trên quỹ đạo Trái Đất, vật thể nhân tạo đầu tiên thoát khỏi sức hút của Trái Đất, Luna-1
- 1959: Lần đầu tiên truyền tín hiệu từ không gian, Luna-1
- 1959: Vật thể nhân tạo đầu tiên bay qua gần Mặt Trăng, vật thể nhân tạo đầu tiên trong quỹ đạo hệ Mặt Trời, Luna-1
- 1959: Vật thể thăm dò lần đầu tiên tiếp xúc Mặt Trăng, Luna-2
- 1959: Lần đầu tiên chụp được ảnh từ phần che khuất của Mặt Trăng Luna-3
- 1960: Lầm đầu tiên sinh vật sống trở về an toàn từ quỹ đạo Trái Đất, chó Belka và Strelka trên Sputnik 5
- 1961: Lần đầu tiên phóng tàu thăm dò sao Kim, Venera-1
- 1961: Con người đầu tiên bay vào vũ trụ, Y.A.Gagarin trên Vostok-1
- 1961: Lần đầu tiên con người bay hơn 1 ngày trên quỹ đạo Trái Đất, đồng thời cũng là người đầu tiên ngủ trong không gian, G.Titov trên Vostok-2
- 1962: Chuyến bay sóng đôi đầu tiên trên thế giới, Vostok-3 và Vostok-4
- 1962: Lần đầu tiên phóng tàu thăm dò sao Hỏa, Mars-1
- 1963: Phụ nữ đầu tiên vào quỹ đạo Trái Đất, V.Tereshkova trên Vostok-6
- 1964: Chuyến bay với phi hành đoàn 3 người đầu tiên, Voskhod-1
- 1965: Lần đầu tiên con người đi bộ ngoài vũ trụ, A.Leonov trên Voskhod-2
- 1965: Lần đầu tiên tàu thăm dò đi vào khí quyển một hành tinh khác trong Hệ Mặt Trời, Venera-3 (sao Kim)
- 1965: Lần đầu tiên tàu thăm dò hạ cánh “mềm” xuống Mặt trăng và truyền tín hiệu về Trái Đất, Luna-9
- 1966: Tàu thăm dò đầu tiên bay theo quỹ đạo Mặt Trăng, Luna-10
- 1967: Lần đầu tiên tiến hành gặp gỡ và ghép nối các tàu không người lái trên quỹ đạo Trái Đất, Cosmos-186/Cosmos-188 (cho đến tận năm 2006, thành tựu kỹ thuật không gian này người Mỹ vẫn không thể sao chép)
- 1969: Lần đầu tiên tiến hành gặp gỡ và ghép nối các tàu có người lái và trao đổi phi hành gia trên quỹ đạo Trái Đất, Soyuz-4 và Soyuz-5
- 1970: Lần đầu tiên tàu thăm dò tự động khoan hút mẫu đất từ một vật thể khác ngoài Trái Đất (Mặt Trăng) và mang về Trái Đất, Luna-16
- 1970: Xe tự hành lần đầu tiên được đưa tới Mặt Trăng, Lunokhod-1
- 1970: Lần đầu tiên nhận được tín hiệu từ bề mặt một hành tinh khác trong hệ Mặt Trời bởi tàu thăm dò Venera-7
- 1971: Trạm không gian đầu tiên của loài người, Salyut-1
- 1971: Lần đầu tiên tàu thăm dò hạ cánh “mềm” xuống bề mặt sao Hỏa, Mar-2
- 1975: Lần đầu tiên tàu thăm dò tới quỹ đạo sao Kim và hạ cánh “mềm” đồng thời truyền những bức ảnh đầu tiên từ bề mặt hành tinh này, Venera-9
- 1984: Người phụ nữ đầu tiên đi bộ trong không gian, S.Savitskaya (trên trạm không gian Salyut-7)

Tài liệu tham khảo:

Nuocngatrongtoi.net
Soviet Space Program - Wikipedia,...
 

Top