Chương trình Vostok - Con người đầu tiên bay vào vũ trụ

redflag

Moderator
#1
Những loạt bài dưới đây được redflag dịch từ cuốn Rockets and People - Hồi ký của Boris Chertok (1912 -) - Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (Nga), Phó Tổng công trình sư Hệ thống điều khiển tàu vũ trụ, là một trong những nhân vật then chốt trong chương trình không gian LX.​


Phần 1: Quá trình chuẩn bị cho chuyến bay

Theo như những nghiên cứu lịch sử chính thức, thời đại của những chuyến bay có người vào vũ trụ được bắt đầu với chuyến bay của Yuriy Gagarin ngày 12 tháng 04 năm 1961. Nhưng với chúng tôi – những người làm việc trong lĩnh vực chế tạo và phát triển tàu vũ trụ, ngày thực sự được công nhận là ngày 15 tháng 05 năm 1960.

Suốt từ sự kiện 15 tháng 05 năm 1942 với chuyến bay đầu tiên trên máy bay dùng nhiên liệu tên lửa BI-1 của Bakhchivandzhi, ngày 15 tháng 05 có liên quan nhiều đến các sự kiện hàng không vũ trụ của chúng tôi: 15/05/1957 - tên lửa đầu tiên R7, 15/05/1958 – Sputnik-3, 15/05/1960 – Korabl – Sputnik đầu tiên (Korabl – Sputnik có nghĩa là phi thuyền – vệ tinh, tên đặt cho các phiên bản tương tự tàu Vostok, được phóng vào khoảng thời gian 1960 – 1961), và nhiều sự kiện nổi bật khác liên quan tới ngày này.

Ba mươi năm sau chiến thắng của Gagarin, có một vài nhà báo đã tung những tin giật gân về bí mật của các phi hành gia Xô viết. Không có bất cứ bằng chứng nào, họ viết về bi kịch của các phi hành gia – những người đã bay vào không gian trước Gagarin. Một trong số họ đã vĩnh viễn ở lại không gian, những người khác thì bị thiệt mạng vì tên lửa nổ ở bãi phóng, một kịch bản thứ ba là những người mở radio nghe thấy những tiếng thổn thức hoặc thở dài của họ trước khi họ thực hiện nhiệm vụ. Thêm vào những câu chuyện bịa đặt này, các bài báo còn cung cấp cả họ tên những phi hành gia xấu số đó. Tất cả những điều này hoàn toàn là giả dối!

Nhưng sự việc đó không chỉ xảy ra trên đất nước chúng tôi. Đối với người Mỹ, 3 năm sau khi các phi hành gia lần đầu tiên đặt chân tới Mặt Trăng, một cuốn sách được xuất bản tuyên bố rằng không có chuyến bay đó, và những thước phim giả dối đó được dựng trong trường quay bí mật. NASA đã phản ứng mạnh mẽ, scandal xảy ra sau đó đã vô tình góp phần cho thành công lớn “vang dội” của cuốn sách vu khống. Tác giả và nhà xuất bản đã tạo ra “một cái chết” từ những lời nói dối trơ tráo.

Tôi cũng từ đó mà chứng minh và nghiêm túc khẳng định một lần nữa rằng: trước chuyến bay của Gagarin, không có bất kỳ con người nào đã bay vào không gian từ lãnh thổ của Liên bang Xô viết. Trước chuyến bay của Gagarin, vào ngày 03/03 năm 1961, Valentin Bondarenko, một thành viên của đội phi hành gia thứ nhất, đã tử nạn bởi hỏa hoạn trong buồng áp suất trong một buổi tập định kỳ. Đó là lỗi sai sót cá nhân và điều đó là không thể tránh khỏi trong công nghệ vũ trụ. Trong suốt diễn biến của kỷ nguyên vũ trụ đến giờ, các phi hành gia Komarov, Dobrovolsky, Volkov và Patsayev đã hy sinh trong các tai nạn tàu vũ trụ. Người Mỹ trong thời gian tương tự, đã mất 17 phi hành gia: 3 người trong hoả hoạn kiểm tra mặt đất tàu Apollo, 7 người trong vụ nổ tàu Challenger khi phóng và thêm 7 người trong vụ tàu Columbia bốc cháy khi trở về Trái Đất.


Valentin Bondarenko (1937 - 1961), người đầu tiên hy sinh trong sự nghiệp chinh phục vũ trụ

Các phi hành gia vẫn qua đời sau khi họ trở về, bởi những tai nạn và bệnh tật. Yuriy Gagarin đã tử nạn trong khi tập luyện với máy bay. Pavel Belyayev đã trở về Trái Đất một cách thần kỳ khi nhiệm vụ Voskhod 2 gặp trục trặc (nhiệm vụ con người lần đầu tiên bước ra ngoài khoảng không vũ trụ) tuy nhiên sau đó có 5 năm, Belyayev đã qua đời trên giường bệnh vì bị nhiễm trùng sau ca phẫu thuật. Nhà vật lý Boris Yegorov là thành viên của phi hành đoàn 3 người bay trên Voskhod 1, chuyến bay không cần trang bị bộ quần áo bảo vệ, anh đã qua đời nhiều năm sau đó vì bệnh tim. Các phi hành gia G.Titov, N.Rukavishnikov và G.Strekalov đã vượt qua những tình huống hiểm nghèo trong chuyến bay vũ trụ, họ không chết trong không gian nhưng đã chết dưới mặt đất bởi bệnh tim mạch và ung thư.

Các tai nạn đã xảy ra với tàu vũ trụ trước chuyến bay của Gagarin nhưng đó là các chuyến bay thử nghiệm tự động hoặc mang theo chó. Hệ tư tưởng thời bấy giờ chỉ cho phép chúng tôi công bố những thành công và giữ bí mật với những thất bại.

Thật là bất ngờ vì đối lập với hệ tư tưởng tự do, không cần giữ bí mật thì thế giới lại không biết gì về những kiến trúc sư thật sự trong chương trình không gian của người Mỹ, ngoại trừ Wernher von Braun, người chỉ đạo phát triển động cơ tên lửa. Ai là các kiến trúc sư trưởng của tàu vũ trụ Mặt Trăng, của động cơ, của hệ thống điều khiển? Tên và địa chỉ của các tập đoàn, các trung tâm khoa học, tên của những người quản lý đứng đầu được công bố rộng rãi, nhưng tên của những kiến trúc sư thật sự chỉ gói gọn trong hai từ “chuyên gia”.

Các Tổng công trình sư của chúng tôi được dựng tượng đài hoặc bia mộ sau khi họ qua đời để tỏ lòng tôn kính, trong khi họ còn sống, họ được nhận Huân chương Anh hùng Lao động, phong tặng danh hiệu và được nhận nhiều Huân huy chương cao quý khác, trong khi những người Mỹ “nghèo nàn” nhận được tiền, những căn nhà tiện nghi, xe ô tô sang trọng và được công nhận là công dân kiểu mẫu.

Điều khiến tôi muốn “lạc đề” trong những dòng viết này là bởi những cảnh phát trên TV mà hàng triệu người xem về những thước phim phóng tàu vũ trụ, phỏng vấn các phi hành gia và những người đứng đầu quản lý, nhưng rất hiếm khi xuất hiện với những người đã tạo ra công nghệ tên lửa và vũ trụ, mặc dầu họ là những người mang gánh nặng và chịu trách nhiệm chính, tạo ra các kỳ tích nhưng họ hoạt động vô hình.

Những bước đi đầu tiên

Những khảo sát ban đầu về tính khả thi cho việc chế tạo một vệ tinh quỹ đạo “với một người trong tàu” được khởi xướng vào tháng 8 năm 1958. Mikhail Tikhonravov và Konstantin Feoktistov là những cá nhân đầu tiên đóng góp cho dự án. Năm 1958, lên kế hoạch thực hiện phát triển hệ thống điều khiển, hỗ trợ sự sống và các hệ thống khác.



Kỹ sư, phi công vũ trụ K.Feoktistov (1926 - 2009)

K.Feoktistov làm việc như một công trình sư về mặt lý thuyết. Trải qua các dự án tham gia thiết kế tàu vũ trụ, từ dự án Vostok tới Soyuz, anh ấy đã cho thấy là người có những ý tưởng sắc sảo trong số tất cả các nhà thiết kế mà tôi đã từng làm việc. Điều đó thật ngoài sức tưởng tượng khi hình dung sự kiên nhẫn của Korolev để chịu đựng tính bảo thủ của Feoktistov – và sự thiên vị quá mức của Korolev cũng là nguồn gốc ranh giới cho sự cuồng tín. Một vài đồng nghiệp của tôi phàn nàn về tính độc đoán của Feoktistov, cách anh ấy thảo luận về các vấn đề thiết kế, điều này là phù hợp khi trong các thiết kế không thể xét tới các mối quan hệ cá nhân. Về sau, Feoktistov phải thích nghi với các khuôn phép văn hoá. Sự cuồng tín của anh ấy được giải thích bởi ước mơ sẽ được bay vào không gian và giấc mơ của anh ấy thành sự thật chỉ không lâu 3 năm sau chuyến bay của Gagarin (Voskhod 1- 1964).

Tháng 04 năm 1959, bản vẽ bí mật về sơ đồ tàu vũ trụ Vostok đã được hoàn thành, trong khi những tính toán đạn đạo với module quỹ đạo hoàn thành sau tháng 05. Kế hoạch cho chuyến bay có người có thể được đẩy nhanh chỉ với sự trợ giúp của giới quân sự. Chúng tôi đã kéo dài sự kiên nhẫn của giới quân sự bằng cách dùng tầm xa của tên lửa, khiến bất ngờ đối với các chuyên gia quân sự và từ đó các tên lửa tập trung để phóng tới Mặt Trăng, sao Hỏa và sao Kim. Tên lửa R-7 và phiên bản cải tiến của nó R-7A (8K74) với tầng thứ 3 – block Ye được thêm vào, có khả năng mang một tải trọng với khối lượng trên 5 tấn lên quỹ đạo gần Trái Đất. Điều này đủ để bắt đầu những thực nghiệm với phóng tàu mang theo người.


R7- Rocket

Người Mỹ đã vô tình gián tiếp cung cấp cho chương trình của chúng tôi. Theo sáng kiến của CIA, họ bắt đầu phát triển một vệ tinh gián điệp. Những thước phim trong đó cảnh vệ tinh Discoverer quay về Trái Đất trong một khí cụ đặc biệt. Tôi phải thừa nhận rằng người Mỹ đã vượt chúng tôi ở những vệ tinh này, cho đến năm 1959, chúng tôi vẫn chưa có công nghệ thu hồi những thiết bị phóng từ quỹ đạo.

Câu hỏi làm thế nào để quay về Trái Đất là vấn đề hàng đầu trong cả các chuyến bay có người lẫn các chuyến bay mang thiết bị chụp ảnh và hoạt động do thám khác. Một bản nghị quyết quan trọng bí mật của Chính phủ đối với chương trình Vostok ngày 22/05 năm 1959, nhằm thống nhất các tầm quan trọng này. Văn bản chỉ định cục OKB-1 chịu trách nhiệm phát triển các thiết kế hệ thống vệ tinh gián điệp tự động. Việc phát triển các vệ tinh do thám, hàng hải được tuyên bố là nhiệm vụ quân sự khẩn cấp. Với sự giúp đỡ của Mstislav Keldysh và Konstantin Rudnev, Korolev đã thêm 7 từ vào trong bản nghị quyết này: “…và còn là một Sputnik cho chuyến bay có người, and also a sputnik for human flight”. Điều này đưa đến kết quả là sự hợp nhất công nghệ các thành phần thiết kế chính của tàu vũ trụ Vostok với tàu Zenit – tàu vũ trụ trinh sát đầu tiên.

Văn phòng của Uỷ ban Hội đồng Kỹ thuật Quốc phòng đưa ra nghị định, có thêm tên của Korolev và các Tổng công trình sư khác. Tổng bí thư Nikita Khrushchev đã nhận và ký ngay mà bỏ qua bất cứ thủ tục rườm rà nào. Khrushchev hiểu sâu sắc về thành công của chuyến bay có người vào vũ trụ sẽ nâng thanh thế và chứng minh tính siêu cường của Liên Xô trên toàn hệ thống xã hội.

Kết quả thu được từ việc phóng các tàu vũ trụ đầu tiên trong chương trình thám hiểm Mặt Trăng, sao Kim và sao Hỏa nói lên rằng chúng tôi cần phải có những cải tiến thiết kế để đạt tới độ tin cậy cho một chuyến bay có người.

Khi chúng tôi thảo luận để chọn lựa cấu hình thiết kế tàu quay trở lại Trái Đất, chúng tôi đã xem xét hàng loạt phương án về hình dạng và cấu trúc của module thu hồi. Vào một trong những phiên họp sôi nổi, khi mà tất cả thời gian dành cho những tranh luận, dưới áp lực từ Tikhonravov và Feoktistov, Korolev đã quay lại sử dụng cấu hình hạ cánh kiểu đạn đạo và module thu hồi có dạng hình cầu. Kiểu module này có vùng chịu nhiệt đáng tin cậy và đơn giản nhất cho cả các chuyên gia khí động học và các nhà thiết kế. Tất cả phần cứng không cần thiết sẽ được ngăn với module thu hồi thành 2 phần riêng biệt: một bộ phận thiết bị và một bộ phận lắp ráp, phần này sẽ tách ra trước khi tàu quay lại bầu khí quyển. Không giống với máy bay, chúng tôi có cơ hội để kiểm tra độ tin cậy của phương tiện mang người mà không cần có người điều khiển!

Mục tiêu của chuyến bay có người vào không gian được quy định trong nghị định của Chính phủ đưa ra ngày 10/12/1959. Một sơ đồ bản vẽ về phiên bản tàu vũ trụ 1K tự động được hình thành trong thời gian 3 tháng. Korolev duyệt nó ngày 26/04/1960.

Tuy những chuyến bay không người gặp thất bại nhưng có những lời đồn đại thổi phồng tràn ngập trong các bài báo của người Mỹ về sự chuẩn bị cho những chuyến bay có người bằng tên lửa Atlas. Cuộc phóng thử nghiệm của tên lửa đánh chặn này bắt đầu vào ngày 11/06/1957, gần như đồng thời diễn ra với tên lửa R7 của chúng tôi. Tuy nhiên, nó không đạt tới tầm xa theo thiết kế cho đến lần phóng thứ 11 vào ngày 28/08/1958. Sau một loạt các cải tiến, tên lửa này đã có khả năng mang một tải trọng trên 1,300kg vào quỹ đạo. Điều này cho phép người Mỹ có cơ sở để thiết kế tàu vũ trụ Mercury và lên kế hoạch chuyến bay có người vào năm 1961.

Sự từ bỏ quyền ưu tiên và để người Mỹ đưa người vào không gian sau tất cả các chiến thắng trước đây của chúng tôi là một điều không thể. Vào ngày 11/10/1960, Khrushchev đã ký nghị quyết quy định thời hạn cuối cùng phải thực hiện nhiệm vụ chuyến bay có người vào vũ trụ…

(Còn nữa)
 

redflag

Moderator
#2
Ðề: Chương trình Vostok - Con người đầu tiên vào vũ trụ

Hội đồng Tổng công trình sư đầu tiên

Quá trình thử nghiệm Korabl – Sputnik cho chuyến bay có người đã chứng minh tính phức tạp và mới mẻ không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn cả về mặt quản lý. Trong suốt thời gian đầu, ít nhất 90% các vấn đề khoa học - kỹ thuật hầu như chịu sự điều hành của Hội đồng 6 Tổng công trình sư đầu tiên. Các nhà khoa học, các kỹ sư, nhà máy, trung tâm và bãi phóng đều liên quan tới Hội đồng này.

Quá trình thiết kế và chế tạo tên lửa, tàu vũ trụ cho chuyến bay được phát triển ở OKB-1. Nhiều người tham gia vào chương trình nhưng người giữ vai trò quan trọng nhất, người sáng tạo thực sự, là Korolev.



Từ phải qua trái: Các Tổng công trình sư Nikolay Alekseyevich Pilyugin - người đứng (Hệ thống dẫn đường và điều khiển), Valentin Petrovich Glusko (Động cơ tên lửa), Viktor Ivanovich Kuznetsov (Hệ thống con quay hồi chuyển), Sergey Pavlovich Korolev (Thiết kế tổng thể tên lửa), Mikhail Sergeyevich Ryazansky (Hệ thống dẫn đường và điều khiển), Vladimir Pavlovich Barmin (Tổ hợp phóng)
Boris Chertok – Phó tổng công trình sư hệ thống điều khiển, cục OKB-1 (người ngồi ngoài cùng bên trái)

Để thực hiện kế hoạch chế tạo tàu vũ trụ cùng các hệ thống hỗ trợ sự sống liên quan, nghị quyết đầu tiên của Chính phủ được chuẩn bị chu đáo và công bố trong tháng 5 năm 1959. Những người chịu trách nhiệm hàng đầu được liệt kê trong danh sách của nghị quyết. Tuy nhiên những người đứng đầu đó không phải lúc nào cũng đảm nhận lời đề xuất của chúng tôi với tinh thần phấn khởi. Đôi khi một sự đối đãi lớn cho những cố gắng phải được dành cho các tổng công trình sư là điều cần thiết.

Các lần phóng tên lửa từ năm 1957 đến 1959 và phi vụ Mặt Trăng đầu tiên đã chỉ ra rằng những nhiệm vụ mới vượt quá phạm vi làm việc, vai trò và khả năng của Hội đồng Tổng công trình sư. Bị khó chịu bởi một vài điều trong một cuộc tranh luận của chúng tôi, Vladimir Barmin đã nói với Voskresenskiy và tôi: “ở đây thường hay nói là nhóm 6 tổng công trình sư, bây giờ chỉ duy nhất một: Korolev”. Nhưng anh ấy đã sai. Điều này không chỉ bất ngờ với Korolev khi mà số tổng công trình sư ngày một tăng lên.

Những kỹ sư trẻ radio là nhóm đầu tiên tham gia vào sự độc quyền của “bộ 6”. Những ứng viên đang làm việc trong lĩnh vực radio là những người không được trọng dụng ở NII-885 (theo tiếng Nga, ký hiệu NII là các viện nghiên cứu khoa học, mỗi Viện có một số hiệu đi kèm riêng) đã chớp cơ hội bởi quy mô lớn của nhiệm vụ, táo bạo gia nhập vào bộ phận của Ryazanskiy, và điều này khiến những cấp phó của Ryazanskiy khó khăn để giải quyết sự tăng lên nhanh chóng trước những thay đổi hoạt động của bộ phận mình.

Sau sự tiếp quản quản lý của Viện Điện lực Matxcova, các cán bộ từ viện như Vladimir Kotelnikov, Aleksey Bogomolov đã được tổ chức thành một bộ phận và bắt đầu phát triển chế tạo hệ thống vô tuyến điện quỹ đạo và đo lường từ xa. Một radio-link điều khiển chống tiếng ồn đặc biệt cần thiết để chuyển đổi những lệnh điều khiển radio tới vệ tinh nhân tạo thứ 3 (Sputnik-3) và sau đó tới tất cả Korobal-Sputnik. Tổng công trình sư Armen Mnatsakanyan làm việc với vấn đề này ở NII-648.

Vô tuyến truyền hình (TV) không gian có radio-link và trở thành thiết bị không thể thiếu cho mọi tàu vũ trụ. Trưởng NII-380, Igor Aleksandrovich Rosselevich và hai trưởng thiết kế, Igor và Petr Bratslavets chịu trách nhiệm chế tạo thiết bị quan trọng này.

Tổng công trình sư của NII-695, Yuriy Bykov, nhận nhiệm vụ phát triển hệ thống liên lạc nội bộ radio (intercom-line), nhờ bộ phận này mà những trạm mặt đất trên toàn thế giới đã được biết tiếng nói của Gagarin trong chuyến bay với biệt hiệu là Zarya (Bình minh). Bykov đã phát triển hệ thống đo lường từ xa hoạt động với tín hiệu sóng ngắn và hệ thống tìm kiếm - điều khiển cho module thu hồi. Mỗi hệ thống radio được đặt trong các trạm mặt đất lẫn các Trung tâm đo lường và điều khiển.

Sau sự độc quyền của hệ thống radio, là sự độc quyền phát triển động cơ tên lửa của Glushko. Aleksey Isayev – chuyên gia hàng đầu về động cơ tên lửa, là người đầu tiên giới thiệu các con người mới cho việc phát triển động cơ dùng cho tên lửa quân sự R-11. Vào thời điểm đó, quay lại năm 1954 thì Glushko đã có những bước tiến dài. Nhưng hiện tại, học trò của Isayev là Mikhail Melnikov đang một mình tham gia vào việc thiết kế hệ thống động cơ cho tên lửa R7. Melnikov đã phát triển các động cơ vernier (loại tên lửa nhiều tầng mà các tầng ghép song song, không phải ghép nối tiếp). Sau đó thì Semyon Kosberg đã thiết kế hệ thống động cơ cho tầng thứ 3, và một lần nữa Melnikov lại phải vật lộn với thách thức để chế tạo động cơ tầng thứ 4 cho phiên bản mới của R7 (8K78).

Các tổng công trình sư mới và các bộ phận mới thành lập nhanh chóng tăng lên, họ gia nhập vào công việc gấp gáp của chúng tôi bởi sự lôi cuốn ở một tương lai sáng lạn. Nếu họ không có tinh thần tự nguyện thì Korolev sẽ dùng những kỹ năng ngoại giao khôn khéo của mình để lôi kéo họ vào công việc, rất hiếm khi mà họ làm việc theo kiểu ép buộc. Lúc đó, Korolev không phải có tên gọi là Tổng công trình sư, cái tên mà trở thành trào lưu sau đó, thay vào đó Korolev là người chỉ đạo, quản lý các Tổng công trình sư. Quyền hạn của Korolev không phụ thuộc vào vị trí và tên gọi của mình.

Khi chương trình chuyến bay có người bắt đầu, ngoài “bộ 6”, Korolev còn “mang về” ít nhất 15 cá nhân, bao gồm Keldysh, nhiều tổng công trình sư của các hệ thống mới, người đứng đầu trung tâm Đo lường và Điều khiển, Trung tâm đạn đạo, Viện y học Hàng không, Tư lệnh Không quân. Korolev quản lý mà không gây nên sự mất lòng với bất cứ ai, tiếp quản quản lý công nghệ, phân chia nhiệm vụ cho mỗi người,… Các nhà thiết kế của Korolev như Bushuyev, Tikhonravov và Feoktistov - những người đã giám sát việc thiết kế tất cả tàu vũ trụ, chịu nhiều trách nhiệm hơn so với nhiệm vụ chính của mình. Họ thiết kế động cơ hãm, hệ thống hỗ trợ sự sống, hạ cánh, sự theo dõi - kiểm tra sinh lý và ngay cả hệ thống cung cấp thức ăn cho phi hành gia trong không gian. Các tổng công trình sư của mỗi bộ phận khác sẽ chỉ đạo việc phát triển mỗi hệ thống này.
 

redflag

Moderator
#3
Ðề: Chương trình Vostok - Con người đầu tiên vào vũ trụ

Cấu tạo tàu vũ trụ Vostok

Bản vẽ dưới mô tả cấu tạo phương tiện phóng vào quỹ đạo trong tháng 5 năm 1960, được công bố như là Korabl Sputnik. Đây là các phiên bản tàu vũ trụ trước tương tự tàu 3KA Vostok sử dụng trong chuyến bay của Gagarin gần 1 năm sau.


Chú giải từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ:
Các tấm panel Mặt Trời, module thu hồi, các quả cầu chứa khí nén cung cấp dưỡng khí, module thiết bị, hệ thống chắn sáng sử dụng cho hệ thống kiểm soát nhiệt độ, động cơ hãm (TDU), ăngten của hệ thống truyền tín hiệu, cảm biến định hướng theo Mặt Trời, thiết bị định hướng thẳng, thiết bị khoa học, cabin có hệ thống đẩy ra khỏi tàu, ăngten radio.


Bản vẽ chi tiết tàu vũ trụ mang người đầu tiên trên thế giới - Vostok 3KA, thiết kế để mang 1 phi hành gia vào quỹ đạo



Tàu Vostok được lắp ráp với động cơ đẩy tầng 3 – block Ye, là tầng cuối cùng của tên lửa R7.



Mô hình tàu Vostok, so sánh kích thước với tàu Mercury của Mỹ (góc trên bên phải)


Tàu Vostok đang được lắp ráp với tên lửa R7 (phía dưới), bộ phận phía trên (bên phải) là vỏ bảo vệ tàu, khi tàu bắt đầu đi vào quỹ đạo, 2 tấm vỏ này ở 2 bên sẽ tự động tách ra.

Vấn đề chọn lựa phương pháp điều khiển cho tàu Vostok được tranh luận trong các cuộc họp. Với phiên bản đầu tiên, Korolev muốn sử dụng hệ thống điều khiển với quyền ưu tiên dành cho phi công, điều này giải thích bởi khi còn trẻ, Korolev có niềm đam mê và là một chuyên gia tàu lượn, điều đó thể hiện ở các bản vẽ thiết kế của Korolev, điều khiển luôn được ưu tiên cho phi công. Phiên bản thứ hai đáng tin cậy hơn là hệ thống động cơ hãm và điều khiển quỹ đạo làm việc tự động, một câu hỏi nảy ra: “Giá thành sẽ tăng thêm bao nhiêu khi hệ thống điều khiển bằng tay chuyển sang tự động?” Điều đó đã cho thấy việc thiết kế hệ thống điều khiển bằng tay là cần thiết, trong khi hệ thống điều khiển tự động bắt buộc phải có. Hệ thống điều khiển bằng tay sẽ là dự phòng trong trường hợp tự động bị trục trặc. Mặc dù chỉ là dự phòng, nhưng chúng tôi thiết kế rất thận trọng hệ thống điều khiển này.

Ngoài ra, một hệ thống “đạn đạo” cũng được thiết kế để bảo đảm sự quay lại Trái Đất của con tàu. Nếu động cơ hãm gặp trục trặc, một quỹ đạo sẽ được chọn để làm giảm tốc độ của con tàu xuống rất nhỏ, từ đó nó sẽ dần dần đi vào tầng trên khí quyển, không nhiều hơn 5 đến 7 ngày, tàu sẽ hạ cánh xuống đất, tuy nhiên điều này không thể biết trước, nơi hạ cánh có thể là một đại dương!


Các hệ thống điều khiển tự động và bằng tay đã thành công! Chúng thật sự đơn giản và đáng tin cậy. Điều này là không tưởng nếu bây giờ có một ai đó đề nghị một hệ thống đơn giản và có độ tin cậy như vậy, bất kỳ chuyên gia nào ngày nay sẽ nói nếu không có máy tính, đó chỉ là lời đùa cợt!

Mục đích truyền tín hiệu âm thanh được ưu tiên hàng đầu. Tôi nhập bộ phận của Vasiliy Grabin NII-88 vào OKB-1 cùng với sự thuyên chuyển bộ phận của Boris Rauschenbach. Toàn bộ thời gian từ năm 1959, 1960 chúng tôi tiến hành các khâu hợp nhất, định hướng mục tiêu mà không tổ chức nào trên đất nước giải quyết được điều đó. Và không chỉ trong đất nước chúng tôi, khi những nhà khoa học nước ngoài có cơ hội hiểu đầy đủ về hệ thống điều khiển đầu tiên trên tàu Vostok, họ lấy làm ngạc nhiên về sự đơn giản và độ tin cậy, khi so sánh chúng với tàu Mercury - tàu vũ trụ đầu tiên của người Mỹ.

Về sau, Rauschenbach, Legostayev, Tokar, Skotnikov và Bashkin có quyền tự hào về hệ thống điều khiển quỹ đạo bằng tay dự phòng và hệ thống điều khiển quỹ đạo tự động, định hướng theo Mặt Trời mà họ đã thiết kế, cũng như các đồng nghiệp trợ giúp cho việc thiết kế - chế tạo các cảm biến quang học tự động và thiết bị điều khiển quỹ đạo thị giác.

Quá trình kích hoạt các hệ thống theo lệnh radio từ Trái Đất được dự phòng và đặt trong bảng điều khiển của phi công. Để giải quyết vấn đề này, những kỹ sư điện bao gồm Karpov và Shevelev (mới tốt nghiệp từ Viện kỹ thuật Radio Taganrog) đã thiết kế hệ thống điều khiển mạch chuyển tiếp tự động kết nối với mạch điều khiển bằng tay, và các đường truyền lệnh radio. Bộ phận từ NII-648 với người đứng đầu trong thời gian đó là Armen Mnatsakanyan lắp ráp các đường truyền lệnh radio cho tàu Vostok.

Người Mỹ đã không ưu tiên phát triển hệ thống điều khiển tự động mà thay vào đó chú tâm tới hệ thống điều khiển bằng tay của phi công, tới năm 1965 thì tàu vũ trụ Gemeni với sức chứa 2 người đã vượt trội so với tàu Vostok ở các thông số kỹ thuật, do đó chúng tôi cần 3 năm để cố gắng một lần nữa dẫn đầu với tàu Soyuz, nhưng cái giá của cuộc chạy đua này là tai nạn của Komarov, tuy nhiên lỗi xảy ra không phải do những người người thiết kế hệ thống điều khiển.

Các hệ thống radio kết nối tàu vũ trụ mang người đầu tiên với Trái Đất. Đường dẫn âm thanh radio băng tần 1-met của Zarya (biệt danh Gagarin trong chuyến bay) với link tín hiệu sóng ngắn, được thiết kế bởi Viện nghiên cứu khoa học của Yuriy Bykov, link siêu cao tần liên lạc màn hình trong hành trình bay, và link đo lường từ xa mới Tral-P được phát triển với thời gian rất gấp gáp ở OKB MEI trong sự hợp tác với Viện nghiên cứu Khoa học truyền hình. Hệ thống truyền hình ảnh có thiết kế rất đơn giản, nhưng đó là chiếc TV đầu tiên trong không gian!

Ngay sau khi cục OKB-1 của Korolev bắt đầu thiết kế các phương tiện phóng thì vấn đề về động cơ tên lửa hãm cũng xuất hiện. Lực đẩy sinh ra từ động cơ hãm sẽ theo chiều đối diện với vector vận tốc quỹ đạo của tàu. Tàu sẽ hạ thấp từ quỹ đạo và đi vào khí quyển chỉ sau khi động cơ hãm được kích hoạt.

Tác động hãm của khí quyển sẽ loại bỏ lực còn lại mà động cơ đã truyền cho tàu khi tàu chuyển động trên quỹ đạo. Cần hai tổng công trình sư cho việc phát triển hệ thống điều khiển tàu quay lại Trái Đất: một cho hệ thống động cơ hãm và một cho hệ thống dù tiếp đất.

Trong tất cả các thiết kế của Vostok thì hệ thống hạ cánh thực sự phức tạp. Chúng phải an toàn và không gây cảm giác sợ hãi cho phi hành gia trong giai đoạn tàu hạ cánh, chúng được thiết kế gồm 2 hệ thống. Module thu hồi và phi hành gia tiếp đất hoàn toàn riêng rẽ! Sau khi đi vào khí quyển, cách mặt đất khoảng 7km, cánh cửa tàu sẽ bật mở và phi hành gia được phóng ra ngoài hoàn toàn tự động, phi hành gia sẽ rơi tự do xuống tới độ cao khoảng 4km, lúc đó dù chính sẽ mở, ghế ngồi sẽ được tách khỏi và rơi tự do. Module thu hồi hạ cánh bằng dù gần đó nhưng không có phi hành gia. Do đó, có 2 hệ thống hạ cánh và bộ quần áo của phi công có nhiệm vụ bảo vệ anh ấy khi tiếp xúc mặt đất bằng việc nhảy dù. Sự tối ưu trong quá trình bật cửa tàu, đẩy ghế mang phi công, mở dù thật sự là vấn đề phức tạp, ở đây sự điều khiển bằng tay là điều vô nghĩa, phi công sẽ thiệt mạng nếu hệ thống tự động bị trục trặc!

VietAstro YouTube Player
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.
Video mô phỏng chuyến bay của Vostok-1

Các thông số tàu vũ trụ Vostok

• Khối lượng tổng: 4,725 kg

- Module thu hồi: 2,460 kg
- Module thiết bị (bao gồm Động cơ hãm): 2,265 kg

• Kích thước:

- Chiều dài thân: 4.3 m
- Đường kính thân max: 2.5 m
- Đường kính module thu hồi: 2.3 m
- Khoảng không trống trong module thu hồi: 1.6 mét khối

• Phân bố khối lượng:

- Cấu trúc: 20%
- Vùng chịu nhiệt: 17%
- Hệ thống trên tàu: 21.5%
- Nguồn điện cung cấp: 12.5%
- Động cơ hãm (có nhiên liệu): 8.5%
- Hệ thống hạ cánh: 3.2%
- Ghế ngồi và phi hành gia: 7.1%
- Khí: 1%
 

redflag

Moderator
#4
Ðề: Chương trình Vostok - Con người đầu tiên vào vũ trụ

Đội phi hành gia số 1

Danh sách các ứng viên được chọn cho chuyến bay đầu tiên theo nghị định đặc biệt của Chính phủ được đưa ra ngày 05/01 và 22/05 năm 1959. Dựa trên nghị định đặc biệt bí mật này, các phi công nhiều triển vọng được chọn lựa từ các đơn vị không quân, sau đó tham gia huấn luyện chuyến bay vũ trụ. Bắt đầu từ tháng 10 năm 1959, từng nhóm phi công tới Trung tâm nghiên cứu khoa học - y học Hàng không quân sự, để trải qua các kỳ kiểm tra sinh lý tổng thể. Giám đốc viện - bác sỹ Nikolay Gurovsky được bổ nhiệm vị trí mới cho việc kiểm tra các hoạt động sinh lý. Sau đó, chúng tôi nhờ sự quan tâm của Gurovsky không chỉ đến các phi hành gia mà còn đến cả công nghệ không gian.

Một ủy ban y học lựa chọn các phi hành gia, sau đó các bài kiểm tra được tiến hành để kiểm chứng sức khỏe các ứng viên, vô số các bài kiểm tra được thực hiện suốt thời gian huấn luyện: ngồi trong ghế quay tròn và đu đưa, ngồi trong máy ly tâm, 10 ngày trong buồng cô lập… Uỷ ban tiến hành kiểm tra trí nhớ, sự lanh lợi tinh thần, sự xoay sở trong tình huống căng thẳng, khả năng quan sát, khả năng chịu đựng trong môi trường thiếu Oxy và nhiều thứ khác. Ngoài ra ủy ban hướng dẫn luyện tập thân thể và nhảy dù. Trên 250 ứng viên ban đầu chỉ có 20 người đáp ứng được các yêu cầu, Bộ tư lệnh Không quân ban hành quyết định về thành lập biệt đội phi hành gia đầu tiên



Korolev và vợ Nina Ivanovna Koroleva cùng với nhóm phi hành gia số 1, bức ảnh nổi tiếng này chụp ở Khu nghỉ dưỡng Sochi, tháng 05/1961. Từ trái qua phải, hàng ngồi: Các phi hành gia Pavel Popovich, Viktor Gorbatko, Yevgeniy Khrunov, Yuriy Gagarin; Sergey Korolev và vợ Nina Koroleva (đang bế con gái của Popovich), giám đốc Trung tâm huấn luyện phi hành gia Yergeniy Karpov, huấn luyện viên dù Nikolay Nikitin và nhà vật lý Yevgeniy Fedorov. Hàng thứ 2: Các phi hành gia Aleksey Leonov, Adrian Nikolayev, Mar Rafikov, Dmitriy Zaykin, Boris Volynov, German Titov, Grigoriy Nelyubov, Valeriy BykovskyGeorgiy Shoni. Hàng cuối cùng: Các phi hành gia Valentin Filatyev (người bị che khuất), Ivan AnikeyevPavel Belyayev.


Có 4 phi hành gia không có mặt trong tấm ảnh này: 2 người bị thương trong khi tập luyện, Valentin Bondarenko đã bị tử nạn và Vladimir Komarov đang bị ốm.

Trong số 20 người đó, cuối cùng chỉ có 12 phi công rất trẻ được chọn để thực hiện cho nhiệm vụ Vostok-1. Các lớp đào tạo lý thuyết và huấn luyện dù được bắt đầu vào tháng 3 năm 1960. 6 ứng viên tiềm năng nhất được chọn để tham gia các lớp huấn luyện đặc biệt, gồm: Pavel Popovich, Andrian Nikolayev, Yuriy Gagarin, German Titov, Grigoriy Nelyubov và Valeriy Bykovsky; các phi công còn lại trải qua chương trình huấn luyện với cường độ ít khắt khe hơn.

Tôi phải thừa nhận rằng khi gặp gỡ đội phi hành gia này lần đầu tiên, tôi có cảm giác hơi thất vọng. Tôi nhớ họ là những trung úy còn trẻ, họ trông giống nhau và không xuất hiện như một điều thật trang trọng. Từ những năm tháng chiến tranh, trong tâm trí tôi đã có một hình ảnh khác hoàn toàn về các “phi công chiến đấu” này. Nếu ai đó nói với chúng tôi rằng, nhiều năm sau, những thanh niên này liệu sẽ có trở thành Anh hùng Liên bang Xô viết cùng với những sự kiện trọng đại được hay không, tôi sẽ trả lời rằng điều đó chỉ có thể nếu họ trải qua chiến tranh. Nhưng Chiến tranh thế giới thứ III không cần thiết cho điều này và có một mặt trận Khoa học – kỹ thuật đang diễn ra trong lòng Chiến tranh lạnh. Còn hơn các người lính trận, đó là các công nhân, các nhà khoa học, các kỹ sư, các tổng công trình sư – những người quyết định kết quả của mỗi trận đánh, và sắp tới đây mặt trận đón nhận những “chiến sỹ mới” – các phi hành gia.

(Còn nữa)​
 

redflag

Moderator
#5
Ðề: Chương trình Vostok - Con người đầu tiên vào vũ trụ

Loạt bài này đáng lẽ ra phải được đăng vào ngày hôm qua, 12/04 - kỷ niệm sự kiện 50 năm Gagarin bay vào vũ trụ, nhưng vì một vài lý do nên không như dự định ban đầu, thật đáng tiếc!
 

redflag

Moderator
#6
Ðề: Chương trình Vostok - Con người đầu tiên vào vũ trụ

Mới tìm được trên youtube một bộ phim tài liệu rất hay nói về chương trình tàu vũ trụ Vostok, với tựa đề "The Early Triumphs".

Chúng ta sẽ đi từ hình ảnh ông giáo trường làng Xi-ôn-cốp-xki đang đạp xe trên con đường đất từ căn nhà gỗ ở Kaluga, đến những tấm ảnh về sự ra đời và những người đứng đầu tổ nghiên cứu động cơ đẩy phản lực GIRD năm 1931, đến những cải tiến tên lửa của LX từ tên lửa V2 của Đức...

Chương trình tàu vũ trụ Vostok với các chuyến bay của Gagarin trên Vostok 1, Titov trên Vostok 2, chuyến bay sánh đôi của phi hành gia Nikolayev trên Vostok 3 - phi hành gia Popovich trên Vostok 4, chuyến bay sánh đôi của phi hành gia Bykovsky trên Vostok 5 và người phụ nữ đầu tiên Tereshkova trên Vostok 6, và còn nhiều thước phim lịch sử rất đáng quý nữa...

Hy vọng mọi người sẽ dành thời gian xem bộ phim này, và có gì không hiểu thì hỏi... redflag ^^

VietAstro YouTube Player
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.
 

haianh_zeee

Thành Viên CLB Thiên Văn Nghiệp Dư TPHCM - HAAC
#7
cho e hỏi trong bản thiết kế con tàu có 1 số quả cầu xung quanh chứa khí. Nó để làm gì ạ?

Ngoài lề: cho e hỏi cái định hướng vị trí có hình TĐ trong khoang lái ở clip nguyên lý hoạt động ra sao ạ?
 

redflag

Moderator
#8
Dưới module thu hồi có tổng cộng 16 quả cầu chứa khí nén Oxy và Nitơ nhằm cung cấp dưỡng khí cho tàu, Oxy và Nitơ từ các quả cầu này sẽ được bơm và trộn theo tỷ lệ 1:4 vào khoang tàu (tỷ lệ không khí)
Theo thiết kế ban đầu thì các quả cầu này chỉ chứa Oxy, tức là môi trường không khí trong khoang tàu sẽ là 100% Oxy, nhưng sau tai nạn hỏa hoạn dẫn đến cái chết của phi hành gia Bondarenko thì tỷ lệ Oxy trong khoang được điều chỉnh lại (tai nạn của Apollo 1 cũng là do điều này).

Còn câu hỏi thứ 2, tín hiệu sóng radio cao tần từ các trạm mặt đất sẽ theo dõi tọa độ của con tàu và truyền tín hiệu tới bộ hiển thị hành trình bay (trong hình ký hiệu là nav.globe - navigation globe) gắn phía trước mặt phi hành gia, bảng hiển thị còn có thiết bị đo áp suất, độ ẩm, nhiệt độ... con tàu.

Bảng điều khiển tàu Vostok đây:



So với các thiết bị của tàu Mercury cùng thời thì tàu Vostok đơn giản hơn nhiều. Đồ Nga đúng là "nồi đồng cối đá", đơn giản mà hiệu quả! :)
 
#9
Phim này có phụ đề tiếng anh không redflag? Nếu không có thì anh em nào có thể nghe rồi chuyển thành phụ đề không? Phim rất hay và ý nghĩa cho WSW năm nay.
 

redflag

Moderator
#10
Phim này có phụ đề tiếng anh không redflag? Nếu không có thì anh em nào có thể nghe rồi chuyển thành phụ đề không? Phim rất hay và ý nghĩa cho WSW năm nay.
Không có đâu anh ơi, nếu muốn dùng làm tài liệu cho WSW thì nhờ đồng chí nào dịch chuyển phụ đề thôi, em có thể góp ý nội dung (em nghe dịch tồi)
 

redflag

Moderator
#11
Những cuộc thử nghiệm cuối cùng



Bộ đôi phi hành gia đầu tiên đã được chọn cho chuyến bay của Vostok 1 là Gagarin và Titov. Hai phi hành gia đã dành nhiều thời gian để tập luyện tại sân bay với sự trợ giúp của Semyon Alekseyev – Tổng công trình sư hệ thống áo phi hành gia và ghế ngồi trong khoang tàu, tập luyện từng bộ phận độc lập để hoàn thiện hệ thống dây an toàn. Fedor Tkachev, tổng công trình sư hệ thống dù thì cho rằng hệ thống dù rất đơn giản, nhưng với tôi để hình dung ra hàng tá dây dù, đai giữ, các khóa dây,…thì còn khó hơn là một mạch điện! Nhưng tôi phải đặt nó sang một bên vì hệ thống dù không thể hoạt động nếu thiếu các tín hiệu điều khiển điện.

Nếu có ai đó mang những tiêu chuẩn ngày nay về độ an toàn của một cuộc phóng tàu vũ trụ vào những lần phóng của chúng tôi hồi tháng 04 năm 1961, thì chúng tôi không có cơ sở cho sự lạc quan đó. Ngay cả những lần phóng vệ tinh thương mại hay tàu vũ trụ không người lái, đặc biệt là các vệ tinh truyền thông, theo tiêu chuẩn quốc tế vào thập kỷ 80 thì yêu cầu phương tiện phóng phải có ít nhất 8 lần thành công liên tục trước đó! Vậy mà trong 5 lần phóng tàu Korabl - Sputnik để thử nghiệm cho Vostok, thì 4 lần tàu rời khỏi mặt đất, trong 4 lần này thì chỉ có 3 lần tàu đạt tới quỹ đạo và 2 lần hạ cánh. Nhưng trong 2 lần hạ cánh thì chỉ có duy nhất 1 lần thành công! Có nghĩa là trong toàn bộ 5 lần thử nghiệm Korabl – Sputnik trước Vostok, chỉ có 1 lần thành công! Chúng tôi cần phải đảm bảo trước chuyến bay mang người có khoảng từ hai đến ba lần thử nghiệm thành công!

Trong 2 lần phóng tàu vũ trụ tới sao Kim (thuộc chương trình Venera) vào ngày 04 và 12 tháng 02 năm 1961, tầng thứ nhất trong 3 tầng tên lửa hoạt động bình thường. Ngày 09/03, tàu không người lái Korabl – Sputnik 3KA số 1 mang hình nộm phi hành gia và chó Chernushka được phóng để cung cấp thêm thông tin chuyến bay. Sau 1 vòng trên quỹ đạo, tàu đã hạ cánh xuống một địa điểm cách Kuybyshev 260 km và được phát hiện bởi những người nông dân địa phương. Thành công của Korabl – Sputnik 3KA cho chúng tôi thêm hy vọng về chuyến bay mang người sắp tới.


Vostok 1 với tên lửa đẩy R7 phiên bản 8K72K​
Những chuyến bay thử nghiệm trước đó cũng chỉ ra rằng khi động cơ hãm (TDU) tách ra trong quá trình con tàu trở lại khí quyển, thì hệ thống dây cáp dùng để kết nối giữa module thu hồi và module thiết gặp trục trặc để tách ra. Tất cả các bộ phận đều được tách cơ học theo một nhóm cấu trúc chính, nhưng được kết nối bởi hệ thống dây cáp dày đặc. Giai đoạn tách cuối cùng xảy ra khi các sợi cáp bị đốt cháy trong khí quyển. Trong sự gấp rút để chuẩn bị cho lần phóng tiếp theo, không có ai đưa ra được ý kiến nào thay đổi thiết kế này, bởi vì lệnh điều khiển tách động cơ hãm (nằm trong module thiết bị) được thông qua các cảm biến nhiệt độ gắn trên module thu hồi, khi module ma sát với khí quyển và tăng nhiệt độ, các cảm biến điều khiển lệnh tách các module.

Vào ngày 25/03/1961, một tàu vũ trụ 3KA khác được phóng nhằm thử nghiệm hệ thống radio của Yuriy Bykov, chuyến bay đã thành công. Các phi hành gia ở khu tập luyện sẽ kiểm tra độ tin cậy về liên lạc cho chính họ trong suốt chuyến bay vào quỹ đạo, trong khi con tàu là vùng phủ sóng của trạm theo dõi. Con tàu hạ cánh thành công cách 45 km vùng Đông Nam của Votkinsk. Đây là chuyến bay thứ 5 của các tàu Korabl – Sputnik. Hình nộm phi hành gia “Ivan Ivanovich” và chó Zvezdochka (do Gagarin đặt tên) đã đáp xuống mặt đất. Những con chó đã chứng minh chúng là những người bạn tốt nhất của con người trong lĩnh vực hàng không vũ trụ, chúng đã mở đường cho con người bay vào không gian…

Thất bại tương tự trong giai đoạn tách các module với hệ thống dây cáp lại xảy ra trong lần phóng tàu 3KA số 2. Nó đã rơi lệch khỏi địa điểm dự tính 660 km. Tôi cũng không thấy bất cứ ai trong số những chuyên gia vẫn còn sống, những người đã từng tham gia vào các lần phóng lịch sử này, nhắc tới những sự cố nghiêm trọng trong hai lần thử nghiệm cuối cùng này trong bản báo cáo gửi tới cấp trên, cũng không có thảo luận nào với Korolev.

Buổi sáng ngày 09/03/1961, Hội đồng Nhà nước với người đứng đầu là Konstantin Rudnev đã nghe bản báo cáo của Korolev về kế hoạch phóng tàu vũ trụ Vostok với một người trong khoang tàu. Korolev đã không báo cáo về việc trục trặc khi tách bỏ hệ thống các dây cáp trên.

Buổi tối cùng ngày, sau khi nghe báo cáo của Korolev, một cuộc họp của Ủy ban công nghiệp Quốc phòng diễn ra ở Kremlin dưới sự điều hành của chủ tịch Ustinov. Ustinov đã nhận thấy ý nghĩa lịch sử của quyết định sắp xảy ra và có lẽ đã đề nghị các tổng công trình sư trình bày ý kiến của mình. Sau khi nhận được sự tin tưởng từ mỗi người và được sự ủng hộ của Hội đồng nhà nước, Ustinov đã ký xác nhận nghị quyết “Đồng ý với đề nghị của các Tổng công trình sư…”. Ustinov được xem như là nhân vật cấp cao đầu tiên của chính phủ “bật đèn xanh” cho chuyến bay có người vào vũ trụ.

Sau đó, Uỷ ban Công nghiệp Quốc phòng đã chỉnh sửa và ký gửi bản báo cáo lên Uỷ ban Trung ương thông báo về kế hoạch chuyến bay vũ trụ có người đầu tiên trên thế giới, có một số bổ sung sau:

- Chuyến bay thành công (thông báo ngay khi tàu vào quỹ đạo)
- Hạ cánh thành công (thông báo ngay sau khi tàu hạ cánh)
- Hạ cánh nguy hiểm trên đại dương hay thuộc lãnh thổ nước ngoài: Đề nghị sự giúp đỡ của các nước đối với tính mạng phi hành gia.


Dự tính chuyến bay sẽ diễn ra vào trong khoảng ngày 10 – 20/04/1961 sau khi công tác chuẩn bị hoàn tất. Ngày 03/04, Tổng bí thư Khrushchev điều hành cuộc họp của Đoàn chủ tịch Hội đồng Liên bang Xô Viết và đồng ý với nghị quyết trên.

(Còn nữa)​
 

redflag

Moderator
#12
Uỷ ban nhà nước và Uỷ ban Trung ương đã có một quyết định lịch sử, mặc dù những cuộc thử nghiệm mặt đất với hệ thống tiếp đất và ghế phóng phi hành gia từ con tàu đã gặp trục trặc. Những thử nghiệm này tiếp tục được tiến hành ở LII. Hệ thống phóng ghế mang phi hành gia được thử nghiệm trên máy bay Il-28, thử nghiệm module thu hồi trên mặt đất, giai đoạn tách module thu hồi thực hiện ở độ cao 5m, các cuộc thử nghiệm sau đó đã thành công tốt đẹp.

Suốt ngày 04/04, cục OKB-1 bàn đến các vấn đề hóc búa về việc đưa máy bay và phi công, vận chuyển các tài liệu và hành lý tới bãi phóng. Hội đồng Liên bang Xô Viết đã trực tiếp đến chứng kiến, đây không là điều ngạc nhiên. Mặt khác, mỗi Tổng công trình sư hay cấp phó của họ đều có lý do ở lại Matxcova thêm một đến hai ngày để gấp rút chuẩn bị một vài thứ, kết thúc công việc và thêm vào một vài danh mục cho bảng liệt kê công việc chuyến bay. Trong bảng liệt kê bổ sung đó, có một phần rất cần thiết là thiếu mất dòng chữ: “chuyến bay có thể bị thất bại” - nó không xuất hiện trong bất kỳ danh sách nào. Tôi phản ứng lại và nhận được lời đề nghị: “Tới gặp riêng Korolev!”. Được biết về thái độ của Korolev với người nào mắc tính hay quên và “phá hoại tổ chức”, nên sẽ là “mạo hiểm” nếu ai đó tới gặp Korolev và hỏi những câu như vậy!

Ngày 04/04, tôi được đề nghị khởi hành từ Vnukovo với Mishin và Keldysh. Keldysh bị trễ và chuyến khởi hành của chúng tôi bị dời lại đến tận 11h tối. Vnukovo đang gặp bão tuyết, máy bay bị bao phủ bởi lớp tuyết dày và chúng tôi lại mất thêm một giờ đồng hồ để các nhân viên sân bay dùng nước nóng rửa tuyết, máy bay cất cánh lúc nửa đêm và chúng tôi ngủ ngay trên đường bay tới Aktyubinsk…

Korolev thấy cần thiết phải đến bãi phóng vài giờ trước các phi hành gia. Phi công lái máy bay thử nghiệm kỳ cựu Mark Gallay đã đưa tất cả các Tổng công trình sư bay cùng chuyến bay với Korolev tới bãi phóng. Vào ngày 05/04, toàn bộ các phi hành gia có mặt tại bãi phóng cùng với các nhà vật lý, các nhà làm phim, và các nhà báo, dưới sự quản lý của Kamanin. Ngày 06/04, Konstantin Rudnev, người đứng đầu Uỷ ban Công nghiệp Quốc phòng đến trung tâm, Rudnev là người thay thế Nedelin (sau tai nạn tên lửa R16 – thảm họa Nedelin). Vào những ngày này, Korolev, Keldysh và Kamanin đã thống nhất nhiệm vụ của các phi hành gia trong chuyến bay 1 vòng quỹ đạo. Họ chỉ ra nhiệm vụ của chuyến bay cũng như hoạt động của phi công trong cả điều kiện bình thường lẫn nguy hiểm. Họ quyết định thông báo kết luận này tới cuộc họp của Uỷ ban Nhà nước.


Sân bay vũ trụ Baikonur​
Vào ngày 08/04, tại cuộc họp Uỷ ban Nhà nước, một nhiệm vụ lịch sử đã được thống nhất: "Thực hiện chuyến bay một vòng quanh quỹ đạo Trái Đất ở độ cao 180 x 230 km trong vòng 1h30’ với địa điểm hạ cánh được xác định trước. Mục đích của chuyến bay là kiểm tra khả năng tồn tại của con người trong một con tàu vũ trụ, kiểm tra hoạt động các thiết bị của con tàu, kiểm tra sự liên lạc giữa tàu với mặt đất, và kiểm tra khả năng hạ cánh của tàu với phi hành gia”. Gagarin được chọn là phi hành gia số 1 cho chuyến bay, Titov là dự bị. Tất cả các thông tin về địa điểm và phương tiện phóng yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật, do vậy năm 1961 sau chuyến bay của Gagarin, không ai trên thế giới biết rằng từ đâu và bằng tên lửa, con tàu vũ trụ nào đã đưa Gagarin đã bay vào không gian?

(Còn nữa)​
 

redflag

Moderator
#13
Dường như mọi thứ, kể cả thời tiết đều ảnh hưởng tới quá trình chuẩn bị cho chuyến bay, nhưng chúng tôi đã gắng sức xoay sở để vượt qua những khó khăn đó. Ba ngày trước chuyến bay của Gagarin, ngày 09/04, chúng tôi quyết định phóng thử nghiệm tên lửa đạn đạo R9, ký hiệu 8K75, đây là lần thử nghiệm đầu tiên của loại tên lửa mới này. Sự việc này chen ngang vào việc chuẩn bị cho chuyến bay Vostok-1 và khiến nhiều người trong số chúng tôi phải hủy bỏ lễ kỷ niệm. Cuộc phóng tên lửa R9 đã được chuẩn bị trước 05:00' ngày 09/04 nhưng thực sự nó đã diễn ra tới 12:12'. Tên lửa đã được nạp đầy Oxy lỏng trong 7 giờ, khi đó các kỹ sư tìm kiếm các lỗi trong sơ đồ điều khiển tự động dưới mặt đất để điều khiển quá trình nạp nhiên liệu. Sau những nỗ lực khắc phục đó, R9 đã được phóng và nó bay với tốc độ mà không như quan sát theo thường lệ.

Mặc dù bản báo cáo chỉ ra rằng tầng thứ hai của R9 tách sớm hơn so với dự kiến, nhưng lần phóng đầu tiên của tên lửa đạn đạo mới này đã gây một ấn tượng mạnh tới tất cả các nhân viên quân sự lẫn dân sự có mặt ở bãi phóng. Tư lệnh lực lượng tên lửa chiến lược, tướng Marshal Kirill Moskalenko đã có bài phát biểu chúc mừng thành công to lớn ấy đồng thời nhắn Rudnev và Korolev cho gửi lời chúc mừng tới các nhân viên điều hành cuộc thử nghiệm. Anh ấy cũng là người duy nhất nghĩ rằng tên lửa đã hoạt động hoàn hảo, sự thật thì R9 đã bị lỗi trong khâu tiếp cận mục tiêu và chúng tôi đã phải mất nhiều thời gian để làm việc với điều này!

Ngay sau lời phát biểu của mình ở bãi phóng, Korolev đã nói với Rudnev và Moskalenko lời đề nghị chỉ định tôi cùng với Mishin ngay lập tức khảo sát toàn bộ các vấn đề xảy ra trong thời gian chuẩn bị phóng R9 đồng thời thông báo với tất cả chúng tôi về một cuộc họp quan trọng vài ngày sau tại Syr Darya River.

Ngày 10/04/1961, trong cuộc họp toàn thể các nhân vật quan trọng với các phi hành gia trước chuyến bay, bao gồm các trung úy không quân Gagarin và Titov, tư lệnh lực lượng tên lửa chiến lược - tướng Moskalenko, Chủ tịch Uỷ ban Nhà nước Rudnev, Tổng công trình sư Korolev, Chủ tịch viện hàn lâm khoa học Keldysh. Tôi nhớ lại rằng khuôn mặt của các phi công khi ấy không tỏ vẻ lo lắng, bởi trải qua tất cả các cuộc tập luyện trước đó, họ đã ở tư thế sẵn sàng. Những kỷ luật quân sự vốn có đã làm giảm bớt bầu không khí thân mật của cuộc họp. Korolev phát biểu rất đơn giản: “Chúng ta có tổng cộng 6 phi công, tất cả đã sẵn sàng cho chuyến bay. Gagarin sẽ là người bay đầu tiên, những người còn lại sẽ bay sau anh ấy… Chúng tôi chúc anh thành công, Yuriy Alekseyevich!”


Y.Gagarin và G.Titov​
Lần đầu tiên tôi chăm chú nghe và đánh giá Gagarin khi anh ấy nói về nhiệm vụ mà anh ấy đã được chọn lựa. Anh ấy không dùng nhiều từ hoa mỹ. Anh ấy là người giản dị, thông minh và khá điển trai. “Một sự lựa chọn chính xác!” - Tôi thầm nghĩ và cho rằng mất một thời gian dài vừa qua đã lựa chọn được đúng ứng viên cho chuyến bay đầu tiên.

Trước khi cuộc họp diễn ra, chúng tôi có băn khoăn: Gagarin hay Titov? Tôi nhớ rằng Ryazanskiy đề nghị Titov. Voskresenskiy nói rằng ẩn đằng sau Gagarin là một sự táo bạo mà chúng tôi không nhận thấy. Rauschenbach, người kiểm tra các phi hành gia thì đồng thuận cả hai. Feoktistov tuy đã rất nỗ lực, nhưng cũng không thể dấu được mong muốn của anh ấy là thay thế vị trí của họ! Cả Gagarin và Titov còn rất trẻ để chuẩn bị cho một sự kiện trọng đại sắp xảy ra (khi ấy Gagarin 27 tuổi và Titov mới có 26 tuổi).

“Nhưng như các anh biết đó” – Isayev nói “Tôi nhớ Bakhchi. Chúng ta với cách này hay cách khác đổ lỗi cho điều gì đã xảy ra với anh ấy. Tôi không có bất cứ nghi ngờ nào về con người. Độ nguy hiểm của chuyến bay Vostok xét về mọi mặt đều cao hơn chuyến bay trên BI nhưng linh tính tôi cho rằng khả năng sống sót của phi công với chuyến bay Vostok dễ dàng hơn so với chuyến bay vượt qua dãy Urals trên BI”. Ở sân bay vũ trụ vào thời gian đó, chỉ có tôi và Isayev nhớ về Bakhchivandzhi, người đã gặp tai nạn và thiệt mạng trong chuyến bay thử nghiệm với BI-1 (máy bay dùng động cơ tên lửa) ngày 27/03/1943, nó như một luồng gió mạnh thổi qua tâm trí chúng tôi…


Từ trái qua phải: Phụ trách trung tâm huấn luyện phi hành gia Kamanin, phi hành gia Titov, chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước Rudnev, tổng công trình sư Korolev, phi hành gia Gagarin, phi hành gia Nelyubov (ảnh chụp tại Syr Darya River 10/04/1961)

Rudnev, Moskakenko, Kamanin và Karpov phát biểu những lời đơn giản và không nhắc về những trách nhiệm lớn lao của họ. Các phi công Gagarin, Titov và Nelyubov cũng đã gửi lời cảm ơn tới sự tin tưởng của chúng tôi với họ. Những lời của Korolev “những người còn lại sẽ bay sau anh ấy…” như nhắn gửi tới các ứng viên đang ngồi tại đây. Cho đến giờ nghĩ lại thì câu nói đó như một lời tiên tri, nhưng không trọn vẹn! Tất cả những ứng viên có mặt tại cuộc họp đó về sau đều đã được bay, trừ duy nhất Nelyubov – người đã gặp tai nạn và mất vài năm sau đó…

Vào những ngày đó, Kamanin giữ cuốn nhật ký của mình và nó chỉ được công bố sau khi Kamanin mất. Vào ngày 05 tháng 04/1961, anh ấy đã viết “…vì vậy, ai sẽ được lựa chọn: Gagarin hay Titov? Tôi vẫn còn một vài ngày để đưa ra quyết định cuối cùng cho câu hỏi này. Thật khó khăn để có thể quyết định sẽ đưa ai vào cõi chết, và cũng thật khó khăn để chọn ai xứng đáng trong số hai hay ba người để rồi họ sẽ nổi tiếng trên toàn thế giới, tên tuổi họ sẽ được ghi danh mãi mãi trong lịch sử loài người…”

(Còn nữa)​
 

redflag

Moderator
#14
Phần 2: Những chuyến bay lịch sử

Vostok 1: Đường vào vũ trụ


Chủ nghĩa Cộng sản mở đường tới các vì sao!
Có nhiều so sánh niềm hân hoan của đất nước vào ngày 12/04/1961 với ngày Chiến thắng 09/05/1945, với tầm rộng lớn của nó. Với tôi, sự so sánh dựa trên mặt hình thức như vậy dường như không chính xác. Ngày Chiến thắng là ngày chắc chắn sẽ xảy ra, đã chờ đợi lâu dài và chuẩn bị trước bởi lịch sử chính nó như một ngày lễ trên toàn đất nước “với những giọt nước mắt trên khóe mắt chúng tôi”.

Sự chuẩn bị cho chuyến bay của Gagarin là một điều bí mật, kể cả những chương trình không gian sau đó của chúng tôi. Bản thông báo chuyến bay của thiếu tá Gagarin, điều mà hoàn toàn không hay biết trước, đến như một điều ngỡ ngàng với toàn thể con người trên Trái Đất và tạo ra niềm hân hoan trên toàn thế giới. Nụ cười của người Matxcơva tràn đầy trên đường phố và tràn ngập Quảng trường Đỏ khẩu hiệu: “Con người bay vào vũ trụ!”


Chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ và thành công của khoa học kỹ thuật Xô viết, đã phục vụ cho sự đoàn kết tinh thần của mọi tầng lớp trong xã hội. Chuyến bay của Gagarin một lần nữa truyền cho chúng tôi hy vọng về một tương lai tươi sáng. Tuy chưa hiểu rõ thực sự chuyến bay sẽ mang lại những gì cho Tổ quốc và nhân loại nhưng mỗi công dân Liên bang Xô viết cảm thấy rằng chính cá nhân họ đang là một phần của đất nước vĩ đại! Không phải người Mỹ hay người phương Tây, mà là một người của Xô viết chúng tôi từ vùng Smolensk (quê hương Gagarin) đã làm nên kỳ tích này!

Tôi không ở Matxcova ngày 09/05/1945 hay ngày đón mừng chiến thắng của Gagarin. Có một lượng lớn thông tin, hình ảnh và những thước phim ghi lại những ngày này. Nhiều năm sau, những cuốn sách giá trị được xuất bản nói về quá trình chuẩn bị tàu vũ trụ, cho chuyến bay và về chính Gagarin. Trong số các quyển sách hồi ký đó có cuốn “Băng qua chướng ngại vật vô hình” của Mark Galley – một phi công lái máy bay thử nghiệm và huấn luyện viên Nhóm phi hành gia số 1, cuốn “Các giai đoạn đầu tiên” của Oleg Ivanovskiy – kỹ sư trưởng thiết kế tàu vũ trụ Vostok 1, cuốn “Bí ẩn không gian” của Nikolay Kamanin – tư lệnh Không quân, chỉ huy trung tâm huấn luyện phi hành gia, cuốn “Đường vào vũ trụ” của Yuriy Gagarin, cuốn “Bảy trăm ngàn cây số trong không gian” của Gherman Titov – người thứ hai bay vào vũ trụ và cuốn “Korolev: Những sự thật và huyền thoại” của Y.Golovanov – kỹ sư, người sau này trở thành nhà báo chuyên nghiệp về lĩnh vực hàng không vũ trụ.

Tác phẩm của Y.Golovanov hoàn toàn ghi lại những sự việc có thật chân dung của mỗi cá nhân tham gia vào sự kiện trong thời gian đó và bầu không khí chung của “Những ngày du hành vũ trụ”…



Những thực tế xảy ra ở sân bay vũ trụ Baikonur suốt những ngày chuẩn bị phóng ít giống với những ngày trước đó khi phóng Korabl – Sputnik, (phiên bản tiền thân của tàu Vostok). Triệu chứng căng thẳng và mất ngủ kéo dài trong thời gian đầu tiên chuẩn bị tên lửa còn căng thẳng hơn sự kiện Sputnik.

Trong những ngày đó, có nhiều người mới đến, họ nhanh chóng hòa nhập với bầu không khí chung, với cách sống ở sân bay vũ trụ. Những dãy nhà nghỉ rộng lớn và phòng ăn tập thể đã giúp họ hòa hợp với nhau. Vào thời điểm đó, trên thảo nguyên những gốc hoa tulip đã nở rộ sớm hơn thường lệ, mặc dầu chúng tôi không nói nhưng hầu hết những con người đến từ Matxcova đều nhận ra tức thì. Mọi người cảm nhận sắp xảy ra một sự kiện lịch sử nhưng không một ai biểu lộ cảm xúc cao trào hay những từ tỏ ra phấn khởi của niềm hân hoan. Tất nhiên họ chào người khác mỗi khi gặp và nụ cười thân ái hơn thường lệ.

Chúng tôi – những người thiết kế tên lửa đẩy và tàu vũ trụ Vostok đã có nhiều lạc quan. Hơn nữa, cùng với hầu hết đồng nghiệp của mình, tôi đã nói suốt thời gian trước ngày phóng về sự tin tưởng thành công của chuyến bay. Vào buổi tối ngày 10/04/1961, trong bầu không khí trang trọng ở căn phòng chật hẹp dưới ánh đèn tù mù của xưởng làm phim tài liệu, một cuộc họp của Uỷ ban Nhà nước diễn ra, nhiều người có mặt tại cuộc họp này, mọi người nói rõ ràng, ngắn gọn và trang trọng trước máy quay và máy ghi âm. Tất cả điều này này tạo nên một cuộc họp bí mật, đến mức mà ngay cả việc bộ phim tư liệu duy nhất về cuộc họp cũng đã không được tiết lộ và phát lên màn hình tại những phiên họp thường kỳ của chúng tôi cho đến tận 10 năm sau.



Gagarin và Titov trên đường tới bãi phóng​
Vào ngày 11/04, tất cả các bước kiểm tra đối với tên lửa đẩy và tàu vũ trụ được tiến hành tại bãi phóng. Trước thời điểm phóng 4 tiếng, nhiên liệu bắt đầu được nạp vào tên lửa và trước thời điểm phóng 2 tiếng, xe bus mang phi hành gia tới bãi phóng. Số lượng người theo cùng Gagarin và ôm hôn anh ấy trước khi anh ấy bước vào thang máy dường như nhiều hơn số lượng người đã được quy định trong bảng danh sách. Một điều may mắn là các thước phim tài liệu trung thực đã được ghi lại những hình ảnh đó. Bây giờ vào những ngày kỷ niệm, chúng tôi đã được xem những thước phim khi Gagarin bước vào thang máy, Voskresenskiy và Ivanovskiy cùng anh ấy vào trong thang máy, Ivanovskiy giúp anh ấy ổn định chỗ ngồi trong khoang tàu.



Từ trái qua phải: Phó tư lệnh lực lượng không quân - chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện phi hành gia Kamanin, tổng công trình sư Korolev, phó tổng công trình sư cục OKB-1 Voskresenskiy, Gagarin, tổng công trình sư Pilyugin

Tôi đi xuống dưới hầm điều khiển phóng tên lửa và nhìn khắp các đèn tín hiệu điều khiển để đảm bảo rằng không có bất cứ lỗi nào xảy ra. Dưới hầm là toàn bộ các nhân viên quân đội vận hành quá trình phóng, tổng công trình sư của hệ thống điều khiển Pilyugin đang đứng trong góc phòng với những trợ lý của anh ấy; Moskalenko và Rudnev trong phòng khách, và Yuriy Karpov đang giám sát bảng điều khiển theo dõi mục tiêu. Yuriy Bykov bắt đầu kiểm tra tín hiệu từ phòng điều khiển. Mười phút sau, liên lạc với Kedr (biệt hiệu của Gagarin trong chuyến bay) được thiết lập. Trước khi Korolev đi xuống hầm điều khiển, Kamanin và Popovich đã liên lạc với Gagarin từ “phòng khách” của hầm.

Tôi bước lên khỏi hầm và tới gặp Korolev lúc này đang đứng tại điểm phóng để báo cáo rằng không có trục trặc nào xảy ra đối với hệ thống của tôi. Korolev nói tôi đến bộ phận IP1. Ngay sau khi đến trạm theo dõi, tôi đã phát hiện ra rằng ngay sau khi Gagarin ổn định vị trí trong phi thuyền, có một sự cố đã xảy ra sau đó, các đèn tín hiệu trên bảng báo tại hầm điều khiển ghi nhận độ kín của cửa tàu đã không bật sáng! Ivanovskiy và Morozov đã nhanh chóng mở cửa khoang tàu và đóng lại rồi kiểm tra độ kín. Trải qua nhiều năm sau đó, các trục trặc của các lần phóng tiếp theo đều đòi hỏi sự xử lý thật kịp thời của đội điều khiển phóng, sự kiện này dần dần diễn ra trong công việc của chúng tôi, nó đã tích lũy thành các chi tiết sâu sắc, góp thêm vào những trang viết về chuyến bay đầu tiên của con người.

Cuộc liên lạc giữa Kedr (Gagarin) và Zarya (biệt hiệu của Korolev) diễn ra trong IP1. Những lệnh thông báo cuối cùng từ hầm điều khiển… Ignition (Kích hoạt), Preliminary (Động cơ phụ), Main (Động cơ chính)... Lift off (Khởi hành) đã kết nối tất cả chúng tôi lúc tên lửa khởi hành. Câu nói đầy cảm xúc của Gagarin: We’re off! (Nào, chúng ta đi!) lẫn trong tiếng gầm rú của động cơ! Chúng tôi đến bộ phận số 2, tại đó đã sẵn sàng bắt liên lạc với Gagarin, tín hiệu âm thanh tốt. Bykov đang phát tín hiệu, và chúng tôi đã nghe những tiếng nói đầu tiên của con người trong không gian: “Quang cảnh thật tuyệt vời! Bên ngoài cửa sổ, tôi nhìn thấy Trái Đất, những đám mây… tôi thấy những dòng sông, chúng thật tuyệt!”

(Còn nữa)​
 

redflag

Moderator
#15
Hành trình chuyến bay


Gagarin trong khoang tàu trước giờ phóng
Thứ 4, ngày 12/04/1961, vài phút trước khi phóng, trong khoang tàu Vostok 1 Gagarin đã nói: "Chào các bạn thân mến, những người biết và không biết tôi, chào đồng bào thân yêu của tôi và toàn thể loài người trên Trái Đất! Chỉ vài phút nữa thôi, một tên lửa Xô Viết khổng lồ sẽ mang con tàu vũ trụ của tôi bay vào không gian bao la. Những gì tôi muốn nói với các bạn vào giây phút này là toàn bộ cuộc sống của tôi, trước khi một khoảnh khắc ngoạn mục duy nhất sắp diễn ra, tôi cảm thấy rằng mình có thể dồn toàn bộ sức lực để thực hiện thành công nhiệm vụ đang mong chờ tôi!"

Quá trình đếm ngược được bắt đầu: Những hình ảnh của Gagarin được truyền hình từ camera gắn trong khoang tàu tới màn hình phòng điều khiển chuyến bay. Korolev nói qua ống nói: “Zarya gọi Kedr. Đếm ngược bắt đầu!” Gagarin trả lời: “Tuân lệnh! Sức khỏe và tinh thần tốt. Sẵn sàng bay!”

06:07 UT, tại bãi phóng số 01 (sau này đặt tên là tổ hợp phóng Gagarin Start) tên lửa bắt đầu được kích hoạt, mệnh lệnh của Korolev qua radio: “Đánh lửa… Các động cơ phụ… Động cơ giữa… Động cơ chính… Khởi hành! Chúng tôi chúc anh chuyến bay thành công! Mọi thứ đều hoạt động tốt!” Gagarin đáp: “Nào, chúng ta đi”


06:09 Hai phút sau, 4 tầng tên lửa phụ đã cháy hết nhiên liệu và tách khỏi tầng chính (thời gian 119s sau khi phóng: T + 119s)

06:10 Vỏ bảo vệ con tàu tự động tách, Gagarin có thể nhìn qua cửa sổ con tàu phía dưới chân ghế ngồi có gắn thiết bị ngắm định hướng Vzor (mắt của con tàu), thời gian tính từ khi phóng đến lúc này là T + 156s

06:12, 05 phút sau khi phóng, tầng chính của tên lửa đẩy đã cháy hết nhiên liệu và tách rời, tầng cuối cùng (tầng 3 của R7) được kích hoạt và tiếp tục đẩy con tàu lên quỹ đạo (T + 300s)

06:13, Khi tên lửa vẫn còn cháy đẩy Vostok lên quỹ đạo, Gagarin báo cáo: “Chuyến bay tiếp diễn tốt đẹp. Tôi có thể nhìn thấy Trái Đất. Quang cảnh thật tuyệt đẹp. Tôi nhìn thấy nhiều thứ từ không gian dưới những đám mây bao phủ. Tôi tiếp tục bay, thật tuyệt!”

06:14, Tên lửa tiếp tục cháy, bắt đầu bay qua trung tâm nước Nga. Gagarin báo cáo: “Mọi thứ hoạt động rất tốt. Tất cả hệ thống đang hoạt động. Chúng ta hãy giữ tiếp chuyến bay!”

06:15, Ba phút trước khi tầng cuối cùng của tên lửa cháy hết nhiên liệu, Gagarin thông báo: “Zarya-1, Zarya-1, (Korolev) tôi không thể nghe rõ ràng. Tôi ổn, tinh thần tốt. Tôi đang tiếp tục bay…” Khi đó Vostok-1 đã bay ra khỏi đường chân trời từ sân bay vũ trụ Baikonur, tức là xa hơn giới hạn hoạt động của sóng radio VHF (Very High Frequency) của trạm kiểm soát tại sân bay vũ trụ. Gagarin đang báo cáo với Zarya-1 (trạm mặt đất tại Baikonur) và hệ thống liên lạc lúc này chuyển sang trạm radio khác.


Korolev liên lạc với Gagarin
06:17, Tầng cuối cùng của tên lửa đốt hết nhiên liệu, 10 giây sau đó tách ra khỏi con tàu và Vostok 1 bắt đầu đi vào quỹ đạo (T+676s). Gagarin báo cáo: “Tàu hoạt động bình thường, tôi có thể nhìn thấy Trái Đất qua cửa sổ. Mọi thứ đều diễn ra theo như kế hoạch”. Lúc này Vostok 1 đã bay qua lãnh thổ nước Nga và đang bay trên bầu trời Siberia.

06:21, Vostok 1 bay qua bán đảo Kamchatka và bay trên bầu trời Bắc Thái Bình Dương, tín hiệu radio của Gagarin “Những tia nắng đang chiếu vào trong khoang tàu. Tôi ổn định và tinh thần tốt. Các thông số buồng lái: áp suất 1 atm; độ ẩm 65; nhiệt độ 20; áp suất hệ thống tên lửa hãm 320 atm…”

06:25, Khi Vostok 1 bắt đầu bay qua Thái Bình Dương từ bán đảo Kamchatka tới cực Nam của Nam Mỹ, Gagarin hỏi “Mặt đất có thể thông báo với tôi về chuyến bay? Mặt đất có thể thông báo với tôi?” Gagarin đề nghị thông tin về thông số quỹ đạo bay. Korolev ở Trạm mặt đất thông báo lại “Chuyến bay diễn ra bình thường”. Trạm thông báo với Gagarin rằng chưa có thông số quỹ đạo vì con tàu mới vào quỹ đạo được 6 phút và hệ thống con tàu hoạt động tốt.

06:31, Gagarin liên lạc về trạm trung tâm: “Tôi cảm thấy rất tuyệt vời. Hãy cho tôi biết các kết quả của chuyến bay!” Lúc này Vostok 1 đang gần đường chân trời của trạm kiểm soát Khabarovska và tín hiệu không truyền tới được trạm. Trạm trả lời: “Đề nghị nhắc lại. Chúng tôi không nghe rõ”. Gagarin nhắc lại “Tôi cảm thấy rất tốt. Thông báo cho tôi biết về chuyến bay”.

06:37, Vostok 1 tiếp tục hành trình khi Mặt Trời lặn trên Bắc Thái Bình Dương. Lúc này con tàu đang đi vào vùng tối, trên vùng Tây Bắc của đảo Ha-oai. Khoảng cách con tàu lúc này đã vượt qua giới hạn liên lạc sóng radio VHF nên trạm bắt đầu chuyển qua liên lạc bằng sóng radio HF (High Frequency).

06:46, Trạm mặt đất Khabarovsk gửi điện báo qua sóng radio HF tới Vostok 1: “Yêu cầu báo cáo tới trạm điều khiển”. Trạm đang đề nghị Gagarin báo cáo khi con tàu nhận được sự dẫn đường của trạm. Gagarin đã báo cáo lại lúc 06:48 UTC.

06:48, Vostok 1 băng qua đường xích đạo tại tọa độ khoảng 170° Tây, hành trình theo hướng Đông Nam và tàu bắt đầu bay trên bầu trời Nam Thái Bình Dương. Gagarin thông báo qua sóng radio HF: “Tôi đang báo cáo như thông lệ: 09 giờ 48 phút (giờ Matxcova), chuyến bay tiếp diễn thành công. Bộ phận chỉ dẫn tự động của màn hình trong khoang tàu đang hoạt động. Áp suất khoang 1 atm; độ ẩm 65; nhiệt độ 20; áp suất buồng 1.2; điều khiển cơ 150; điều khiển tự động thứ nhất 155; điều khiển tự động thứ hai 155; thùng nhiên liệu tên lửa hãm 320 atm; tôi cảm thấy ổn.”

06:49, Gagarin thông báo anh ấy đang đi qua phần tối của Trái Đất

06:51, Gagarin báo cáo hệ thống định hướng quỹ đạo theo Mặt Trời bắt đầu làm việc. Hệ thống này định hướng tự động để kích hoạt tên lửa hãm trên con tàu. Hệ thống định hướng tự động bao gồm 2 hệ thống dự phòng: hệ thống định hướng Mặt Trời/tự động và hệ thống định hướng theo thị giác/điều khiển bằng tay. Mỗi hệ thống hoạt động bằng hệ thống đẩy khí nitơ nén dự phòng, mỗi hệ thống có 10 kg (22 lb) nitơ nén lỏng

06:53, Trạm mặt đất Khabarovsk thông báo cho Gagarin sóng radio HF: “Theo thứ tự của số 33 (chỉ huy Nikolai Kamanin), sóng liên lạc đã được bật và chúng tôi thông báo chuyến bay đang diễn ra theo như kế hoạch, quỹ đạo bay đúng như tính toán” Trạm thông báo Vostok 1 có quỹ đạo ổn định. Gagarin đáp lại đã nhận được thông báo.

06:57, Vostok 1 bay trên Nam Thái Bình Dương giữa New Zealand và Chile, Gagarin gửi báo cáo "... Tôi đang tiếp tục hành trình và tôi đang bay qua châu Mỹ. Tôi đã gửi tín hiệu.”

07:00, Vostok 1 băng qua eo biển Magellan thuộc cực nam Châu Mỹ. Tin tức về chuyến bay đã được thông báo trên đài phát thanh Matxcơva.

07:04, Gagarin báo cáo trạng thái con tàu, tương tự bản báo cáo lúc 06:48, nhưng trạm mặt đất không nhận được báo cáo này.

07:09, Gagarin báo cáo trạng thái phi thuyền, tương tự bản báo cáo lúc 06:48, nhưng trạm mặt đất không nhận được báo cáo này.


Phân tích quỹ đạo bay của Vostok 1
07:10, Vostok 1 bay trên Nam Đại Tây Dương, Mặt Trời mọc lên và chiếu sáng con tàu. Còn đúng 15 phút nữa tên lửa hãm sẽ được kích hoạt theo tín hiệu từ hệ thống định hướng Mặt Trời.


07:13, Gagarin gửi báo cáo trạng thái con tàu, giống như bản báo cáo 06:48. Matxcơva nhận được một phần tin nhắn này “Con tàu hoạt động bình thường, chuyến bay đang tiếp diễn…”

07:18, Gagarin báo cáo trạng thái phi thuyền, tương tự bản báo cáo lúc 06:48, nhưng trạm mặt đất không nhận được báo cáo này

07:23, Gagarin báo cáo trạng thái phi thuyền, tương tự bản báo cáo lúc 06:48, nhưng trạm mặt đất không nhận được báo cáo này

07:25, Vostok 1 bắt đầu kích hoạt tên lửa hãm. Tên lửa hãm cháy trong thời gian 42 giây khi con tàu bay gần Angole trên vùng phía Tây châu Phi. Con tàu đang ở vị trí cách điểm hạ cánh tại nước Nga khoảng cách 8000 km.

07:25 tới 07:35, 10 giây sau khi tên lửa hãm ngừng hoạt động, lệnh điều khiển tách rời module thiết bị và module thu hồi được thực hiện. Tuy nhiên trục trặc ở hệ thống dây cáp lại tái diễn và 2 module này không được tách rời nhau trong 10 phút sau đó. Lúc này Vostok-1 đang băng qua phía Tây châu Phi, tiếp tục hành trình bay về trung tâm Châu Phi và hướng thẳng tới Ai Cập.

07:35, Cả 2 module đều đi vào tầng khí quyển, con tàu xoay tròn dữ dội khi gần tới Ai cập. Cuối cùng, các bó cáp cũng bị đốt cháy và module thu hồi được giải phóng. Gagarin báo cáo: “mọi thứ tốt đẹp” bất chấp con tàu đang xoay tròn, về tình huống này về sau Gagarin nói lại rằng anh ấy không lo lắng vì anh ấy hiểu rằng việc xoay tròn con tàu không gây nguy hiểm (module này có hình cầu).

07:35 tới 07:55, Con tàu tiếp tục đi vào tầng khí quyển trên bầu trời Ai Cập rồi vượt qua biển Địa Trung Hải, gần bờ biển Cộng hòa Síp rồi hướng tới trung tâm lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Quá trình hạ thấp độ cao được tiếp tục, Vostok-1 quay trở lại lãnh thổ Liên Xô trên Biển Đen gần Krasnodar. Gagarin trải qua gia tốc 8 g’s

07:55, Vostok 1 cách mặt đất 7 km, cửa tàu bật mở và 2 giây sau đó, Gagarin được phóng ra ngoài khoang tàu, ở độ cao 2.5 km, dù chính của tàu Vostok bung ra và tàu tiếp đất lúc 07:55 UTC. Hai thiếu niên chứng kiến giây phút con tàu hạ cánh và mô tả cảnh này: “Nó là một quả cầu rất lớn, cao khoảng 2 đến 3 mét, nó đã rơi xuống nhưng nảy lên rồi rơi xuống lần nữa, và tạo ra một cái hố lớn”


Khoang đổ bộ Vostok 1
08:05, Hệ thống dù của Gagarin mở ở độ cao hơn so với Vostok 1 (7 km so với 2.5 km), nên tiếp đất sau khoảng 10 phút so với khoang tàu. Cả Gagarin và khoang tàu đều tiếp đất bằng dù ở tọa độ 51°16′49″N 45°58′36″E / 51.280383°N 45.976740° thuộc vùng Saratov. Hai mẹ con người nông dân đã thấy một người lạ mặc bộ đồ màu cam với một cái mũ lớn màu trắng trên đầu, đáp xuống bằng dù gần họ. Gagarin sau đó nhớ lại: “Khi họ nhìn thấy tôi trong bộ đồ phi hành gia cùng rơi xuống cùng tấm dù và đang bước tới chỗ họ, họ bắt đầu quay lưng tránh né và lo sợ. Tôi nói rằng: Đừng sợ, tôi là một người Xô Viết như chị! Tôi vừa trở về từ vũ trụ và tôi cần một chiếc điện thoại để gọi về Matxcơva!”

VietAstro YouTube Player
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

VietAstro YouTube Player
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

(Còn nữa)​
 

anhcos

Quản Lý Cao Cấp
#16
Hay và hồi hộp quá, đọc mà cứ tưởng như mình đang ngồi trong khoang lái.
 

sky_love

New member
#17
giống như anh cũng như tham gia trực tiếp vào chương trình của Liên xô ngày xưa ấy!
em đọc chưa hết, save lại, đề phòng diss mạng, tối về em đọc tiếp ^^!
 

redflag

Moderator
#18
Nhà khoa học vũ trụ vĩ đại Boris Chertok từ trần

Nhà khoa học nổi tiếng thế giới Boris Chertok từ trần khi chỉ chưa đầy hai tháng rưỡi nữa là đến ngày kỷ niệm sinh nhật đại thọ trăm tuổi.

Ngày 14/12 tại Mátxcơva, nhà nghiên cứu vĩ đại Chertok - cộng sự thân thiết của công trình sư thiên tài Sergei Korolev - đã ra đi vĩnh viễn.


Công lao của Boris Chertok đối với khoa học không gian Nga và toàn cầu có lẽ không thể nào tính hết. Ông đã trở thành một biểu tượng của kỷ nguyên những khám phá vĩ đại, những phát minh đột phá trong lĩnh vực vũ trụ, mở ra một chương mới huy hoàng trong lịch sử nhân loại.

Ngay từ cuối Chiến tranh thế giới II, là thành viên của Ủy ban đặc biệt, ông Chertok đến nước Đức và bắt đầu nghiên cứu mẫu tên lửa đạn đạo đầu tiên trên thế giới "V2" (Vergeltungswaffe-2). Sau chiến tranh, V2 là nguyên mẫu tên lửa đạn đạo được chế tạo tạo tại Liên Xô, Hoa Kỳ và các nước khác.

Chính vào thời gian này, Boris Chertok bắt đầu kết hợp làm việc chặt chẽ với Sergei Korolev. Trong chặng dài mấy thập kỷ tiếp theo, tất cả hoạt động của ông đều gắn bó với việc chế tạo những hệ thống điều khiển mới cho các bộ máy tên lửa và tàu vũ trụ.

Bà Alla Medvedeva Thư ký khoa học vũ trụ nổi tiếng với tên gọi “Những công trình Korolev” nói: “Cho đến tận giây phút cuối đời, Boris Chertok vẫn sống trong môi trường tụ hội mọi sự kiện gắn với ngành vũ trụ. Sự ra đi của ông để lại tiếc nuối vô hạn đối với thế giới ở kỷ nguyên vũ trụ này”.

nguồn
--------------------------------------
http://vietnamese.ruvr.ru/2011/12/15/62271651.html
http://www.nytimes.com/2011/12/15/world/europe/boris-chertok-russian-rocket-engineer-dies-at-99.html
http://www.universetoday.com/91857/boris-chertok-rocket-pioneer-dies-at-99/
http://www.bostonglobe.com/metro/ob...ace-program/0wytvhtI1afKUX6We0RgyK/story.html
http://360.thuvienvatly.com/bai-vie...-nha-tien-phong-ten-lua-hoc-qua-doi-o-tuoi-99

Biết tin này... buồn quá :( Dẫu biết rằng ông ra đi ở tuổi già nhưng vẫn thấy buồn và tiếc nuối vô hạn :( B.Chertok là người duy nhất còn lại trong số những nhà khoa học - kỹ sư hàng không vũ trụ đầu tiên của Liên Xô trong cuộc chạy đua không gian thập kỷ 50 - 60: thời kỳ của Sputnik-1 và Gagarin!
Là phó Tổng công trình sư thuộc cục thiết kế OKB-1 nổi tiếng của Sergei Korolev, B.Chertok đảm nhiệm việc thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển trên các tên lửa đẩy và tàu vũ trụ, tiêu biểu là hệ thống định hướng theo Mặt Trời để kích hoạt tên lửa hãm trên tàu vũ trụ đầu tiên của loài người - Vostok.

Loạt bài dang dở này là redflag dịch từ bộ "Rockets and People" - Hồi ký của ông về chương trình chinh phục vũ trụ của Liên Xô. Hồi ký có tổng cộng 4 tập (tiếng Nga), NASA dịch sang tiếng Anh được 3 tập, hy vọng tập cuối cùng sẽ nhanh chóng hoàn thành.
Còn riêng mình, muốn làm một cái gì đó để tưởng nhớ...





B.Chertok (ngoài cùng bên trái) trong Hội đồng các Tổng công trình sư đầu tiên (người ngồi giữa là Tổng công trình sư nổi tiếng S.Korolev)



"Chúng tôi yêu mến từng tên lửa một, chúng tôi nóng lòng muốn nó cất cánh thành công. Chúng tôi đã trao cả trái tim và linh hồn của mình vào để thấy nó bay lên. Đối với chúng tôi, tên lửa như người tình" - B.Chertok (1912-2011)
 
#19
Vậy là người cuối cùng trong kỷ nguyên này cũng đã ra đi. Nhớ chỉ mới đây thôi một bài báo phỏng vấn ông. Mình có đọc và đã dịch lại. Rồi mới cãi nhau với Redflag rồi mới quen nhau. Ông đã ra đi dẫu biết đó là điều tất yếu. Nhưng ông đi mang theo bao nhiêu bí mật của một thời hoàng kim mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ được "bật mí"
 
#20
Em nghe mà nổi da gà luôn.Bài viết hay quá anh ơi.Công nhận Gagarin anh hùng thực dám bay vào vũ trụ trong khi cả thế giới lúc bấy giờ còn mơ hồ với khái niệm vũ trụ.Đây cũng là bàn đạp để nền cong nghiệp vũ tru trên thế giới phát triển.Sau này, hàng loạt các cuộc "Du Hành Vũ Trũ "khác cũng ra đời, như Hoa Kì họ nhanh chóng phát triển khoa học và công nghệ để cạnh tranh với Liên Xô.Bằng chứng là hàng loạt những cuộc "Du Hành Vũ Trũ" của họ như "Đặt Chân Lên Mặt Trăng" hay tiến hành phóng các con tàu không gian không người lái vào vũ trụ và họ dều thành công.
Lần đầu em viết bài có gì "Yếu Kém Và Sai Sót "mong anh chị bỏ qua cho em nha.Thank cac anh chị:sm (12)::sm (21)::sm::sm (32):
 

Top