Kính thiên văn vũ trụ Hubble là sản phẩm hợp tác của 2 cơ quan không gian NASA và ESA. Tên của kính được đặt để vinh danh nhà thiên văn Edwin Powell Hubble (20/11/1889 - 28/09/1853). Đây cũng là kính quan sát không gian đầu tiên trong hệ thống «NASA Great Space Observatories» (1). Trải qua 18 năm hoạt động, kính thiên văn Hubble giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển thiên văn học hiện đại, đồng thời cũng góp phần phổ biến thiên văn học đối với cộng đồng.
Sau khi phóng được một tuần, các kết quả quan sát truyền về cho thấy đã có một lỗi nhỏ trong quá trình chế tạo tấm gương chính. Mặc dù lỗi này rất nhỏ, tuy nhiên, nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả quan sát đối với các thiên thể xa và mờ. Lỗi này đã được một nhóm chuyên gia của NASA sửa chữa vào tháng 12/1993 (STS-61, tàu con thoi Endeavour). Đợt sửa chữa này còn triển khai thêm 1 số thiết bị và nâng cấp máy tính chính của kính Hubble. Từ đó đến nay, kính Hubble còn được nâng cấp thêm 3 lần nữa (Tháng 2 năm 1997 và tháng 12 năm 1999 do phi hành đoàn của tàu Discovery, tháng 3 năm 2002 do phi hành đoàn của tàu Columbia). Sau tai nạn của tàu Columbia tháng 2 năm 2003, kính Hubble chưa được nâng cấp thêm 1 lần nào nữa. Gương Ngày 30/01/2007, camera chính đã ngừng hoạt động, kính Hubble chỉ còn làm việc tại vùng sóng tử ngoại. Năm 2008, kính Hubble sẽ được sửa chữa và nâng cấp thêm 1 lần cuối cùng. Nhiệm vụ này sẽ do phi hành đoàn tàu Atlantis thực hiện (nhiệm vụ STS-125). Dự kiến tàu con thoi sẽ được phóng lên quỹ đạo vào ngày 28/08/2008, toàn bộ nhiệm vụ kéo dài trong 11 ngày. Do đặc điểm của quỹ đạo bay, trong trường hợp gặp sự cố, STS-125 sẽ không thể dùng ISS làm trạm cứu nạn. Để sẵn sàng ứng cứu, 1 tàu con thoi khác (dự kiến là Endeavour) sẽ được đưa ra bãi phóng trong khi Atlantis đang ở trên không gian (nhiệm vụ STS-400). Nếu cần thiết, Endeavour sẽ bay lên giải cứu phi hành đoàn Atlantis. Theo kế hoạch, phi hành đoàn Atlantis sẽ thực hiện 5 lần các hoạt động ngoài phi thuyền (EVA), thay toàn bộ các con quay hồi chuyển, thay pin và gắn thêm 2 thiết bị quan sát mới : Wide Field Camera 3 (WFC-3) và Cosmic Origins Spectrograph (COS). Nếu lần nâng cấp thứ 5 thành công, kính Hubble sẽ có thể hoạt động ít nhất là đến năm 2013.
Trần Tuấn Tú
Được đưa lên vũ trụ bằng tàu con thoi Discovery, kính Hubble hoạt động ở quỹ đạo cách bề mặt Trái Đất khoảng 600 km, chuyển động 1 vòng quanh Trái Đất trong khoảng 96 – 97 phút. Gương phản xạ chính của kính Hubble có đường kính 2.4 m. Do không bị ảnh hưởng bởi khí quyển, kính Hubble có khả năng cho ảnh sắc nét gấp 5 lần so với chiếc kính thiên văn quang học hiện đại nhất đặt trên mặt đất. Mặc dù mục đích chính là quan sát tại bước sóng khả kiến, tuy nhiên, kính Hubble được triển khai thêm các thiết bị để có thể quan sát thêm ở cả bước sóng hồng ngoại và tử ngoại. Năng lượng cung cấp cho toàn bộ các thiết bị được lấy từ 2 tấm pin mặt trời có kích thước 2.6m x7.1m. Một phần năng lượng được dự trữ trong 6 khối pin để sử dụng trong 25 phút kính Hubble chuyển động vào phần bóng tối của Trái Đất trong mỗi chu kỳ.
Ảnh: Tàu con thoi Discovery mang theo kính Hubble được phóng lên không gian
Dải sóng làm việc của kính Hubble
Sơ đồ trao đổi dữ liệu giữa kính Hubble và mặt đất
Hai bức ảnh kính Hubble chụp thiên hà M100 trước và sau khi nâng cấp
Tài liệu tham khảo:
[1] European Space Agency, 2000 - 2007. Today in space history – 24 April,
http://www.esa.int/esaSC/SEMQ4E2PGQD_index_0.html
[2] European Space Agency, 2000 - 2007. Hubble Overview,
http://www.esa.int/esaSC/SEM106WO4HD_index_0_m.html
[3]Wikipedia, 4/2008. Hubble Space Telescope,
http://en.wikipedia.org/wiki/Hubble_Space_Telescope
====
Ghi chú :
(1) Hệ thống «NASA ''s Great Space Observatories» bao gồm 4 kính thiên văn/đài thiên văn không gian : Hubble (quan sát chủ yếu tại bước sóng khả kiến), Compton (quan sát chủ yếu tại bước sóng tia gamma), Chandra (quan sát chủ yếu tại bước sóng tia X) và Spitzer (quan sát chủ yếu tại bước sóng hồng ngoại). Ngoài đài quan sát tia gamma Compton đã rơi trở lại Trái Đất vào năm 2000, các kính thiên văn Hubble, Spitzer và đài quan sát Chandra vẫn đang hoạt động trên không gian (tính đến tháng 4 năm 2008)
- 04/05/2012 - 05/05/1961 - Alan B. Shepard Jr trở thành người thứ 2 bay vào không gian
- 04/05/2012 - 04/05/1989 - NASA phóng thành công tàu thăm dò Sao Kim Magellan
- 03/05/2012 - 03/05/1998 - tàu Columbia đã hạ cánh thành công, kết thúc nhiệm vụ STS-90
- 02/05/2012 - 01/05/1949 - Gérad P. Kuiper phát hiện ra vệ tinh Nereid của Sao Hải Vương
- 02/05/2012 - 30/04/1777 - Ngày sinh nhà toán học thiên tài người Đức Carl Friedrich Gauss
- 28/04/2012 - 29/04/1872 - Ngày sinh nhà thiên văn học Hoa Kỳ Forest Ray Moulton
- 27/04/2012 - 28/04/1900 - Ngày sinh nhà thiên văn Hà Lan Jan Hendrik Oort
- 26/04/2012 - 27/04/1961 – NASA phóng thành công vệ tinh Explorer-11
- 26/04/2012 - 26/04/1933 - Ngày sinh nhà vật lý thiên văn Hoa Kỳ Arno Allan Penzias
- 24/04/2012 - 25/04/1918 - Ngày sinh nhà thiên văn học Hoa Kỳ gốc Pháp Gérard Henri de Vaucouleurs
- 23/04/2012 - 23/04/1962 - NASA phóng thành công tàu vũ trụ Ranger-4
- 22/04/2012 - Ngày 22/04/1056, Siêu tân tinh Con Cua đã mờ đến mức không thể thấy bằng mắt thường
- 21/04/2012 - Ngày 21/04/1994, hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời lần đầu tiên được phát hiện
- 20/04/2012 - 20/04/2008 - Ngày mất John Goodricke, nhà thiên văn nghiệp dư người Anh
- 19/04/2012 - Ngày 19/04/1971, Liên Xô đã phóng thành công trạm không gian đầu tiên của thế giới
- 17/04/2012 - 17/04/1598 - Ngày sinh nhà thiên văn học Italia Giovanni Battista Riccioli
- 15/04/2012 - 15/04/1793 - Ngày sinh nhà thiên văn người Nga gốc Đức Friedrich Georg Wilhelm von Struve
- 15/04/2012 - 16/04/1972 - NASA phóng thành công tàu vũ trụ Apollo-16
- 14/04/2012 - 14/04/1629 - Ngày sinh nhà toán học, vật lý và thiên văn vĩ đại Hà Lan Christiaan Huygens
- 12/04/2012 - 13/04/1960 - Hoa Kỳ phóng thành công vệ tinh Transit1-B



